vanban.org

Bản án 101/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Trọng K phạm tội “Giế t người”.

Xử phạt: Trương Trọng K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/11/2020. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Trọng K - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Trọng K phạm tội “Giế t người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2021/HS-ST
Ngày: 15/6/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Quách Văn Th

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Tr

Bà Mai Thị V

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim O – Thư ký TAND tỉ nh Thanh Hó a

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà:

Ông Dương Đức M – Kiểm sát viên

Trong các ngày 14, 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 theo Quyế t đị nh đưa vụ án ra xé t xử số 105/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Trƣơng Trọng K, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1962, tại huyện Thiệu H, tỉnhThanh H; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H; Trình độ học vấn: Lớp 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trương Trọng N (đã chết) và bà Lê Thị S (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị Đ và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1993); Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/11/2020 đến ngày 04/12/2020 chuyển tạm giam, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa cho đến nay; Có mặt.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ (vợ bị cáo) - sinh năm 1965; Nơi cư trú : Thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H; Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Lê Văn Đ – sinh năm 1978; Vắng mặt.

Anh Trương Trọng B – sinh năm 1974; Vắng mặt.

Chị Lê Thị V – sinh năm 1975; Có mặt.

Anh Trương Trọng Ch – sinh năm 1972; Có mặt.

Cùng nơi cư trú: Thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H.

NỘI DUNG VỤ Á N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biế n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/11/2020, Trương Trọng K, sinh năm 1962 trú tại thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H đi vào phòng của vợ là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965, thấy bà Đ đang nằm trên giường nên K muốn quan hệ vợ chồng nhưng bị bà Đ từ chối và nói “Ông đi ra ngoài không tôi đạp ông chết bây giờ”. Bị vợ đuổi nên K đi ra ngoài. Khi bước chân xuống khỏi giường của bà Đ, K vô tình làm đổ cây quạt điện để cuối giường. Thấy vậy, bà Nguyễn Thị Đ cho rằng K cố tình đập phá đồ đạc nên bà Đ liền nói “Con cái mua cái gì mi cũng đập”, ông K đáp lại “Tao đụng tay trúng chứ có đập mô”, bà Đ lập tức chửi “Mi còn cãi à! Tao đập mi chết bây giờ”. Trương Trọng K không nói nữa, vì hai vợ chồng ngủ riêng nên ông K bỏ về phòng ngủ của mình bên cạnh phòng bà Đ. Khi K vừa bước đến cửa phòng ngủ của mình thì bà Đ liền đi theo phía sau rồi dùng tay túm tóc giật và vật K ngã xuống nền nhà. Trương Trọng K đang trong tư thế nằm ngửa, thì bà Đ liền ngồi lên bụng K, một tay bà Đ túm tóc, còn tay kia bóp cổ K. Bị bà Đ bóp cổ ghì xuống nền nhà, K kêu “Á, Á” vì khó thở nên bà Đ buông tay ra và đứng dậy đi về phòng của mình lấy điện thoại để sang nhà hàng xóm chơi. Do bực tức vì bị vợ mắng chửi và đánh nên Trương Trọng K lấy con dao nhọn dài khoảng 20cm đang để dưới gối ở đầu giường ngủ của mình rồi cầm ra phòng khách. Cùng lúc này bà Đ cũng từ phòng ngủ của mình bước đến phòng khách, trong tư thế gần đối diện K cầm dao tay phải đâm 01 nhát trúng vào vùng ngực phải của bà Đồng. Bị đâm bà Đồng liền chạy lại giường đặt ở phòng khách rồi lấy gối và chiếu ném về phía K, thấy K không tấn công nữa thì bà Đ liền chạy ra ngoài đường, còn Trương Trọng K quay về phòng ngủ của mình cất dao về chỗ cũ và lên giường đi ngủ.

Bà Nguyễn Thị Đ bị thương chạy sang nhà em chồng là Trương Trọng B ở gần đấy và nói cho mọi người biết mình vừa bị chồng dùng dao đâm trúng ngực. Do mất máu nên bà Đ gục xuống sân nhà anh B, thấy vậy nên mọi người đưa bà Đ đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc L.

Sau khi biết tin bà Đ bị thương nặng đã được mọi người đưa đi cấp cứu nên Trương Trọng K đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc L xin đầu thú và khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình.

* Khám nghiệm hiện trường: Hồi 03 giờ 00 phút ngày 28 tháng 11 năm 2020 tại thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H, thể hiện:

Hiện trường còn nguyên vẹn; ban đêm, ánh sáng đèn điện, đủ điều kiện để khám nghiệm.

Hiện trường chung: Vụ việc xảy ra ngày 27/11/2020 tại nhà bà Nguyễn Thị Đ và Trương Trọng K, thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H.

- Phía Đông giáp gia đình Bùi Văn D ở thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H;

- Phía Tây giáp gia đình Trương Trọng Ch ở thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H;

- Phía Nam giáp đường liên thôn;

- Phía Bắc giáp khu đồi ở thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H;

Hiện trường cụ thể: Vụ việc xảy ra ngày 27/11/2020 tại gia đình bà Nguyễn Thị Đ và Trương Trọng K ở thôn Lưu Ph, xã Quang Tr, huyện Ngọc L, tỉnh Thanh H như sau:

Nhà được thiết kế xây dựng kiến trúc nhà cấp 4 với 03 phòng ngủ, 01 phòng khách, 01 khu bếp và 01 khu vệ sinh, nhà tắm của gia đình.

Nơi xảy ra vụ việc được xác định là tại vị trí phòng ngủ số 02 của gia đình Trương Trọng K, được ký hiệu là (N) trong sơ đồ hiện trường. Tiến vào phòng ngủ số 2 có 01 chiếc giường bằng gỗ kích thước 191,5cm x 147,5cm, phía trên giường ngủ mắc 01 chiếc màn màu trắng, phía dưới có 02 đệm ngủ, đệm dưới màu xanh hoa văn, đệm trên màu đỏ hoa văn, trên giường ngủ có 01 chiếc chăn màu tím, 01 gối màu xanh, 01 gối màu trắng đỏ hoa văn và 01 gối màu trắng. Kiểm tra trên gối màu trắng phát hiện thấy có 01 chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thấm trên mặt gối có kích thước 03cm x 01cm, được ký hiệu là (1) trong sơ đồ.

Tiến hành lật đệm màu đỏ có hoa văn lên phát hiện thấy tại vị trí đầu giường phía Đông Nam có 02 con dao được ký hiệu lần lượt là (2) và (3) trong sơ đồ. Dao số (2) dài 28,5cm, dao có một đầu nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu cán dao được khuyên bằng kim loại, trên lưỡi dao và cán dao bám dính chất nâu đỏ (nghi là máu), dao đã qua sử dụng. Dao số (3) dài 21,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,2cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,3cm, dao đã qua sử dụng. Cách đầu giường ngủ về phía Tây Nam 105cm phát hiện thấy có 01 chất màu nâu đỏ bám dính trên sàn phòng ngủ (nghi là máu) có kích thước 12cm x 10cm, được ký hiệu là (4) trong sơ đồ.

Tiến vào phòng ngủ số 01 thấy có 01 chiếc giường bằng gỗ kích thước 190cm x 146cm, phía trên giường mắc 01 chiếc màn màu trắng. Tại vị trí đầu giường ngủ về phía Đông Bắc 10cm phát hiện thấy nhiều mảnh nứt, vỡ nhựa được ký hiệu là (5) trong sơ đồ. Từ vị trí số (4) cách 435cm về phía Tây phát hiện thấy nhiều chất màu nâu đỏ (nghi là máu nhỏ giọt) theo chiều từ trên xuống dưới có kích thước 40cm x 36cm, ký hiệu là (6) trong sơ đồ. Từ vị trí số (6) cách 70cm về phía Tây Bắc phát hiện thấy 01 chiếc khăn màu xanh – trắng có kích thước 70cm x 27cm bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) được ký hiệu là (7) trong sơ đồ.

Sát góc Tây Bắc bức tường phòng khách đặt 01 chiếc giường bằng gỗ kích thước 206cm x 166cm, trên giường có 01 chiếc chiếu cói, 01 gối màu trắng – xanh hoa văn, 01 gối màu trắng – đỏ hoa văn, 01 chiếc quần soóc màu trắng và 01 chiếc quần soóc màu đen. Từ vị trí số (7) cách 140cm về phía Tây Bắc là vị trí 01 chiếc quần màu trắng được ký hiệu là (8) trong sơ đồ, trên bề mặt chiếc quần bám dính chất màu đỏ (nghi là máu). Từ vị trí (8) cách 70cm về phía Bắc phát hiện thấy nhiều chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thấm vào các thanh gỗ của mặt giường (phản giường) có kích thước 92xm x 43cm, được ký hiệu là (9) trong sơ đồ.

Từ vị trí (9) cách 40cm về phía Bắc phát hiện thấy nhiều chất màu nâu đỏ (nghi là máu phun) bám dính trên mặt tường phía Bắc của phòng khách, theo chiều từ trái sang phải, từ dưới lên trên, được ký hiệu là (10) trong sơ đồ. Vết (10) cách mặt sàn nhà là 87cm – 93,5cm, cách bức tường phía Tây là 98cm.

Các tài liệu, đồ vật thu giữ gồm:

- 01 con dao dài 28,5cm, dao có một đầu nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu cán dao được bọc khuyên bằng kim loại, trên lưỡi dao và cán dao bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu), dao đã qua sử dụng (Ký hiệu giám định là N1).

- 01 con dao dài 21,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,2cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,3cm, dao đã qua sử dụng.

- 01 chiếc khăn màu trắng – xanh có kích thước 70cm x 27cm bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu tại vị trí số (7) (Ký hiệu giám định là N3).

- 01 chiếc quần soóc màu trắng bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu tại vị trí số (8) (Ký hiệu giám định là N4).

- Thu các chất có màu nâu đỏ (nghi là máu) tại các vị trí (1), (4), (6), (9) và (10) (Ký hiệu giám định lần lượt từ M1 đến M5).

- Ngày 24/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết máu, kiểu gen (ADN). Tại bản Kết luận giám định số 664/PC09 ngày 31/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

“1. Chất màu nâu đỏ nghi máu ở các mẫu vật cần giám định kí hiệu là N1, N3, M3, M4, M5 gửi đến giám định đều là máu của Nguyễn Thị Đ.

2. Chất màu nâu đỏ nghi máu trong phong bì ký hiệu N3, M1, M2 gửi đến giám định đều là máu người. Do chất lượng dấu vết kém nên không xác định được đầy đủ hồ sơ kiểu gen.

3. Lưu kiểm gen (ADN) của Nguyễn Thị Đ tại Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa./.”

* Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể: Hồi 08 giờ ngày 30/11/2020 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, thể hiện:

- 01 vết thương ở khoang liên sườn III, cách vú phải khoảng 03cm. Bờ mép vết thương sắc gọn. Có phì phò máu khí qua vết thương.

- Vết thương thấu phổi, thấu ngực – bụng, gây rách thùy dưới phổi phải, làm rách cơ hoành và tổn thương, rách thùy phải gan.

- Ngày 05/3/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của bà Nguyễn Thị Đ. Bà Đ có đơn từ chối giám định và không thực hiện Quyết định trưng cầu giám định của cơ quan điều tra.

- Ngày 10/3/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định dẫn giải người bị hại tuy nhiên bà Đ không chấp hành việc dẫn giải nêu trên.

* Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Đ không cung cấp các hóa đơn thanh toán tiền viện phí, đồng thời có đơn đề nghị Cơ quan điều tra miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trương Trọng K và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 con dao dài 28,5cm, dao có một đầu nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu cán dao được bọc khuyên bằng kim loại, trên lưỡi dao và cán dao bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu), dao đã qua sử dụng.

- 01 con dao dài 21,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,2cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,3cm, dao đã qua sử dụng.

- 01 chiếc khăn màu trắng – xanh có kích thước 70cm x 27cm bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu ở hiện trường tại vị trí số (7).

- 01 chiếc quần soóc màu trắng bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu ở hiện trường tại vị trí số (8).

- Các chất có màu nâu đỏ (nghi là máu) thu ở hiện trường tại các vị trí số (1), (4), (6), (9) và (10).

Cáo trạng số 47/CT-VKS-P2 ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh H truy tố bị cáo Trương Trọng K về tội “Giế t ngư ời” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh H tham gia phiên tòa giữ nguyên quyế t đị nh truy tố bị cáo Trương Trọng K; sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo , các tình tiế t giảm nhẹ trách nhi ệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xé t xử tuyên phạt bị cáo Trương Trọng K từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “giế t người”. Về dân sự ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu bồi thường của bị hại Đ với bị cáo K; xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy đị nh pháp luật.

Tại phiên tòa , bị cáo Trương Tr ọng K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Thanh H và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Thị Đ có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với bị cáo K, xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại.

NHẬ N ĐỊ NH CỦA TÒ A Á N

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xé t xử nhận đị nh:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Trương Trọng K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; Cơ chế hình thành vết thương; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn trong sinh hoạt vợ chồng nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/11/2020 tại khu vực nhà riêng của Trương Trọng K và vợ là Nguyễn Thị Đ đã xảy ra cãi vã nhau. Trong quá trình cãi nhau, bà Đ đã dùng tay túm tóc giật và vật ngã K xuống dưới nền nhà ở khu vực trước buồng ngủ của K sau đó bà Đ ngồi lên bụng K, một tay túm tóc, còn một tay bóp cổ. Trương Trọng K bị bóp cổ chỉ biết kêu “Á, Á” nên bà Đ bỏ tay ra khỏi cổ K. Do bực tức nên K đã đứng dậy vào giường ngủ của mình lấy 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại dài khoảng 30 cm ở dưới gối. Trong tư thế gần đối diện, K cầm dao bằng tay phải đâm về phía bà Đ trúng vào vùng ngực phải.

Hậu quả làm bà Nguyễn Thị Đ bị thương tích nặng ở vùng ngực phải, vết thương thấu phổi, thấu ngực – bụng, gây rách thùy dưới phổi phải, làm rách cơ hoành và tổn thương, rách thùy phải gan phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc L và Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh H.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, việc bà K không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi đó đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ, hậu quả nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện tính hung hãn, coi thường pháp luật, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ả nh hưởng đến an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong mộ t thời gian nhằm trừng trị và cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm hiện nay.

[4] Về tình tiết tăng nặ ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có ; tình tiế t gi ảm nhẹ : Có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú khai báo hành vi phạm tội của mình; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại; có thời gian tham gia quân đội; có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn có xác nhận chính quyền địa phương, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, phạm tội chưa đạt là tình tiế t giảm nhẹ quy đị nh tại điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Đ không yêu cầu bị cáo Trương Trọng Kim bồi thường. Xét thấy: Yêu cầu của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấ p nhậ n và không xem xét trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

[6] Vật chứng cửa vụ án: 01 con dao dài 28,5cm, dao có một đầu nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu cán dao được bọc khuyên bằng kim loại, trên lưỡi dao và cán dao bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu), dao đã qua sử dụng; 01 con dao dài 21,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,2cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,3cm, dao đã qua sử dụng; 01 chiếc khăn màu trắng – xanh có kích thước 70cm x 27cm bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu ở hiện trường tại vị trí số (7); 01 chiếc quần soóc màu trắng bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu) thu ở hiện trường tại vị trí số (8); Các chất có màu nâu đỏ (nghi là máu) thu ở hiện trường tại các vị trí số (1), (4), (6), (9) và (10) là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác: Ngày 22/3/2021, Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 760/QĐ-XPKLBB đối với Nguyễn Thị Đồng bằng hình thức phạt tiền 1.250.000đ.

[8] Về án phí: Bị cáo Trương Trọng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 2 Điều 123; điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định lệ phí, án phí Tòa án:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Trọng K phạm tội “Giế t người”.

Xử phạt: Trương Trọng K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 28/11/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Xử lý vậ t chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hu ỷ: 01 con dao dài 28,5cm, dao có một đầu nhọn, lưỡi dao bằng kim loại dài 17,5cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, hai đầu cán dao được bọc khuyên bằng kim loại, trên lưỡi dao và cán dao bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu), dao đã qua sử dụng; 01 con dao dài 21,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11,2cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,3cm, dao đã qua sử dụng; 01 chiếc khăn màu trắng – xanh có kích thước 70cm x 27cm bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 chiếc quần soóc màu trắng bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu). Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa với Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa số 115/2021/TV-CTHADS ngày 23/4/2021.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trương Trọng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyề n khá ng cá o : Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhậ n:

Cỡ chữ