vanban.org

Bản án 101/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Trần Hoàng H.

Về con chung: Giao cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Trọng N, sinh ngày 16/11/2020, đến tuổi thành niên; Giao cho Anh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Trung H, sinh ngày 12/4/2019, đến tuổi thành niên; Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung mà mình khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Trần Hoàng H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 9 – 2021
V/v Ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Diễm Huyền.

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cúc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Xuân Mai-Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2021/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 3 năm 2021, về việc Ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2021, các thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 585/TB-TA, ngày 19/7/2021 và số 645/TB-TA, ngày 02/8/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 222/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1999. Địa chỉ thường trú: Số X, ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ tạm trú: Số Y, N, Khóm Z, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Trần Hoàng H, sinh năm 1994. Địa chỉ thường trú: Số X, ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Huỳnh Thị T và anh Trần Hoàng H tự nguyện kết hôn, được gia đình tổ chức lễ cưới, và có đến Ủy ban nhân dân xã X đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn số 54, ngày 12/3/2018.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T trình bày: Anh H không những thường xuyên đánh chị, mà còn tụ tập bạn bè, đá gà, đánh số, hút chích, đánh bài, tài xỉu. Không những thế, Anh H lại có thái độ không tôn trọng cha, mẹ vợ. Xét thấy, hiện nay chị không còn tình cảm yêu thương Anh H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là Trần Trung H, sinh ngày 12/4/2019 và Trần Trọng N, sinh ngày 16/11/2020.

Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Trần Hoàng H.

- Về con chung: Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu Trần Trung H cho Anh H nuôi dưỡng, còn cháu Trần Trọng N chị yêu cầu nuôi dưỡng, không yêu cầu Anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn anh Trần Hoàng H không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị T.

*Tại phiên tòa, Kiểm Sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao cho nguyên đơn và bị đơn mỗi người nuôi dưỡng một người con chung mà hiện nay hai đương sự này đang nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Hoàng H, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do; Nguyên đơn chị Huỳnh Thị T vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T và anh Trần Hoàng H tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân xã X, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng ngày 12/3/2018, nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và Anh H có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không hạnh phúc, không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, do không còn tình cảm, nên đã sống ly thân từ ngày 16/3/2021, đến thời điểm này, cả chị T và Anh H cũng không có một biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có hai người con chung là Trần Trung H, sinh ngày 12/4/2019 (đang sống với Anh H) và Trần Trọng N, sinh ngày 16/11/2020 (đang sống với chị T).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, các khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

Theo thỏa thuận của đương sự, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N và đồng ý giao cháu H cho Anh H nuôi dưỡng. Xét thấy, hai người con chung này từ nhỏ đã được cha, mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên cần tiếp tục giao cho người đang nuôi dưỡng tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý, tránh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ. Nếu sau này người mẹ hoặc người cha nuôi dưỡng không tốt thì người cha hoặc người mẹ còn lại có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Trần Trọng N, sinh ngày 16/11/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Giao cháu Trần Trung H, sinh ngày 12/4/2019, cho Anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng cho chị T và Anh H, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T và Anh H đối với nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Đề nghị của Kiểm Sát viên về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Trần Hoàng H.

2) Về con chung: Giao cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Trọng N, sinh ngày 16/11/2020, đến tuổi thành niên; Giao cho Anh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Trung H, sinh ngày 12/4/2019, đến tuổi thành niên; Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng cho chị T và Anh H, không ai được ngăn cản.

3) Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T và Anh H đối với nhau.

4) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5) Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009690, ngày 17/3/2021, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6) Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

7) Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ