- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "CHÓT - ĐÀO"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của b Phạm Thị C v ông Nguyễn Thanh H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2021/DS-ST Ngày: 02/12/2021 V/v tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Nhu
2. Ông Lý Minh Hùng
- Thư ký phiên tòa: B Lê Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Thêm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 110/2021/TLST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2021 về việc tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2021/QĐXXST-DS ngày 18/10/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: - Bà Phạm Thị C, sinh năm: 1961.
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1960.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện L, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Bà Phạm Thị C, sinh năm: 1961
(Theo văn bản ủy quyền ng y 24/02/2021).
Địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện L, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: - Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm: 1976.
- Anh Trần Hồng S, sinh năm: 1977.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện L, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Hồng S: Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm: 1976. (Theo văn bản ủy quyền ng y 29/3/2021)
Địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện L, tỉnh Tiền Giang.
(Bà C, chị Đ có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện đề ngày 04/3/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị C và ông Nguyễn Thanh H trình bày:
Vào năm 2018 v 2019, vợ chồng chị Nguyễn Thị Anh Đ và anh Trần Hồng S có vay của ông, bà nhiều lần số tiền tổng cộng l 70.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Sau khi vay, phía chị Đ, anh S trả lãi đủ đến ng y 13/6/2019 thì ngưng đến nay không trả vốn v lãi.
Nay ông, b yêu cầu chị Đ, anh S trả số tiền vốn 70.000.000 đồng v tiền lãi tính từ ng y 13/6/2019 đến ng y 13/3/2021 số tiền lãi l 44.100.000 đồng. Tổng cộng số tiền vốn vay và tiền lãi là 114.100.000 đồng.
- Theo Tờ tự khai đề ngày 22/3/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Anh Đ và anh Trần Hồng S trình bày:
Chị Đ và anh S thừa nhận có vay tiền của b C, ông H 05 lần tổng cộng số tiền vốn vay là 70.000.000 đồng như lời b C khai l đúng, nhưng lãi suất vay là 15%/tháng. Sau khi vay anh, chị trả tiền lãi đến tháng 05/2020 mới ngưng. Về tiền vốn, có trả được số tiền 30.000.000 đồng (Trả l m 03 lần mỗi lần 10.000.000 đồng).
Nay anh, chị chỉ đồng ý trả cho b C, ông H số tiền vốn vay 40.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi.
- Tại phiên tòa, các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu v ý kiến về phần tiền vốn. Riêng về phần tiền lãi suất, hai bên thỏa thuận thống nhất phía chị Đ trả cho phía bà C số tiền lãi là 10.000.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát tham dự phiên tòa phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền v nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa nhận thấy yêu cầu nguyên đơn l có cơ sở chấp nhận, vì: Theo lời trình b y của b C do quen biết nên b có cho b Đ vay số tiền 70.000.000đ với lãi suất 3%/tháng, các lần b Đ vay tiền của ông H, bà C cụ thể như sau: Ng y 12/9/2018 vay 10.000.000đ; ng y 08/11/2018 vay 30.000.000đ; ng y 20/02/2019 vay 10.000.000đ; ng y 28/02/2019 vay 10.000.000đ v ng y 13/6/2019 vay 10.000.000đ. Các biên nhận do b Đ tự viết v ký tên. Bà C cũng cung cấp được 05 biên nhận chứng minh cho yêu cầu của mình. Về phía b Đ cũng thừa nhận có vay tiền của b C và ông H 05 lần như b C đã trình b y v b Đ l người nhận tiền các lần vay. Tuy nhiên, bà Đ trình b y l đã trả vốn cho b C 03 lần tổng cộng l 30.000.000đ (Gồm: Hai lần mỗi lần trả 10.000.000đ v o năm 2019, lần thứ 3 trả 10.000.000đ v o ng y 09/9/2020) nhưng b không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc b đã trả tiền vốn 30.000.000đ cho b C và bà C cũng không thừa nhận. Mặc dù, các biên nhận nợ đều do b Đ mượn nợ v ký tên, nhưng chồng b l ông S cũng đồng ý cùng b Đ trả nợ cho ông H, bà C. Do đó b C yêu cầu b Đ và ông S trả số tiền 70.000.000đ l có cơ sở chấp nhận. Về lãi suất: B C yêu cầu tính lãi suất l 3%/tháng tính từ ng y 13/6/2019 đến nay với số tiền l 44.100.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, bà C chỉ yêu cầu số tiền lãi l 10.000.000 đồng. B Đ cũng đồng ý trả lãi 10.000.000 đồng nên công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ v o Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc b Nguyễn Thị Anh Đ v ông Trần Hồng S trả cho b C và ông H số tiền 70.000.000đ v 10.000.000 đồng tiền lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, t i liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ v o kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà C, ông H kiện chị Đ, anh S tranh chấp về Hợp đồng vay tiền. Đây là giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh ch p: Bà C, ông H tranh chấp kiện bị đơn yêu cầu trả số tiền nợ vay, nên xác định đây l tranh chấp Hợp đồng vay t i sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự.
- Về việc ủy quyền của đương sự: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H ủy quyền cho b Phạm Thị C (Theo văn bản ủy quyền được Ủy ban nhân dân xã Hậu Mỹ Bắc B chứng thực ngày 24/02/2021)
Bị đơn anh Trần Hồng S ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Anh Đ (Theo văn bản ủy quyền được Ủy ban nhân dân xã Hậu Mỹ Bắc B chứng thực ngày 29/3/2021).
Xét việc ủy quyền của các đương sự l phù hợp với quy định tại Điều 138 của Bộ luật dân sự, nên bà C là người đại diện theo ủy quyền của ông H, chị Đ l người đại diện theo ủy quyền của anh S.
. Về nội dung vụ án:
V o năm 2018 và 2019, vợ chồng chị Nguyễn Thị Anh Đ, anh Trần Hồng S có vay của ông H, bà C nhiều lần số tiền tổng cộng l 70.000.000 đồng. Đồng thời, bà C cung cấp chứng cứ l 05 biên nhận các lần vay, nhận tiền, cụ thể như sau:
Biên nhận ngày 12/9/2018 vay số tiền 10.000.000 đồng.
Biên nhận ng y 08/11/2018 vay số tiền 30.000.000 đồng.
Biên nhận ng y 20/02/2019 vay số tiền 10.000.000 đồng.
Biên nhận ng y 28/02/2019 vay số tiền 10.000.000 đồng.
Biên nhận ng y 13/6/2019 vay số tiền 10.000.000 đồng.
Chị Đ đồng thời l người đại diện theo ủy quyền của anh S thừa nhận có vay tiền của b C, ông H 05 lần tổng số tiền 70.000.000 đồng v thừa nhận các chứng cứ là 05 biên nhận nhận tiền do b C cung cấp đúng là do chị Đ viết v ký tên. Do vậy, có căn cứ xác định Hợp đồng vay t i sản giữa hai bên nguyên đơn v bị đơn thực tế đã phát sinh theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự.
Tuy nhiên, theo lời chị Đ khai lãi suất khi vay l 15% không phải 3% v anh, chị đã trả được số tiền vốn l 30.000.000 đồng (Trả l m 03 lần, mỗi lần 10.000.000 đồng, trả 02 lần v o năm 2019 v 01 lần v o ng y 09/9/2020). Đồng thời, chị Đ có cung cấp cho Tòa án 01 thẻ nhớ m u đen dung lượng 2GB.
. Về tiền vốn vay:
Xét lời chị Đ khai đã trả số tiền vốn l 30.000.000 đồng, bà C là người trực tiếp nhận tiền, nhưng không được b C thừa nhận. Đồng thời chị Đ, anh S có cung cấp 01 thẻ nhớ m u đen dung lượng 2GB. Tuy nhiên, anh chị không có văn bản trình b y nội dung thẻ nhớ l gì, xuất xứ thẻ nhớ theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, Tòa án đã có thông báo số 113A/2021/TB-TA ngày 29/03/2021 về việc quy định thời gian cung cấp nguồn gốc, xuất xứ, nội dung của thẻ nhớ, nhưng phía chị Đ vẫn không cung cấp. Do vậy, thẻ nhớ m u đen dung lượng 2GB do chị Đ cung cấp không được xem l chứng cứ. Ngo i ra, anh, chị cũng không có chứng cứ chứng minh nào khác cho việc trả số tiền vốn 30.000.000 đồng, nên không chấp nhận lời khai n y của phía chị Đ.
Xét chứng cứ v yêu cầu khởi kiện của b C, ông H yêu cầu chị Đ, anh S trả số tiền vốn 70.000.000 đồng l có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, ông H. Buộc chị Nguyễn Thị Anh Đ v anh Trần Hồng S liên đới trả cho b C, ông H số tiền vốn vay 70.000.000 đồng l phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ Luật dân sự.
. Về yêu cầu tính tiền lãi su t: Tại phiên tòa, b C thay đổi yêu cầu tính lãi suất chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 10.000.000 đồng. Mặc dù lời khai hai bên không thống nhất về mức lãi suất cho vay, nhưng tại phiên tòa các bên không tranh chấp. Đồng thời, hai bên tự thỏa thuận v thống nhất chị Đ trả cho b C, ông H số tiền lãi là 10.000.000 đồng.
Xét việc thỏa thuận trả tiền lãi suất giữa hai bên l tự nguyện v phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ Luật dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Xét to n bộ yêu cầu khởi kiện của b C, ông H là có cơ sở, nên chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của b C, ông H.
Buộc chị Nguyễn Thị Anh Đ, anh Trần Hồng S liên đới trả cho b C, ông H tổng cộng tiền vốn v tiền lãi 80.000.000 đồng (Tiền vốn 70.000.000 đồng, tiền lãi 10.000.000 đồng).
. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên chị Đ, anh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa l có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ v o các Điều 463, Điều 466, Điều 280, Điều 288 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 v Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của b Phạm Thị C v ông Nguyễn Thanh H.
- Buộc chị Nguyễn Thị Anh Đ v anh Trần Hồng S liên đới trả cho b Phạm Thị C, ông Nguyễn Thanh H số tiền 80.000.000 đồng.
- Kể từ ng y bà C, ông H có đơn yêu cầu thi h nh án, nếu chị Đ, anh S chậm trả tiền thì h ng tháng còn phải trả thêm tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Đ, anh S liên đới chịu 4.000.000 đồng.
- Ho n lại bà Phạm Thị C, ông Nguyễn Thanh V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.852.500 đồng theo biên lai thu số 0004892 ngày 16/3/2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án n y trong hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 v Điều 9 Luật thi h nh án dân sự, thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi h nh án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Cái Bè; - CCTHADS huyện Cái Bè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM VĂN NHỊN |