- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "A-B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh A và chị B về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
- Căn cứ chính? Thông tư số 05/2015/TT-BXD Quy định về quản lý chất lượng xâ…; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2021/DS-PT Ngày 28 - 12 - 2021 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thị Kiều Anh
Ông Lê Thanh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Út Mười - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2021/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2021/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 100/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
- Đồng nguyên đơn: Anh A, sinh năm 1984
Chị B – sinh năm 1987
Cùng địa chỉ: ấp M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bạc Liêu (có mặt)
- Đồng bị đơn: Anh C – sinh năm 1983
Chị D – sinh năm 1989
Cùng địa chỉ: ấp M, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Đồng nguyên đơn anh A, chị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, đồng nguyên đơn anh A và chị B trình bày:
Anh A và chị B xây dựng nhà vào tháng 6 năm 2012, toàn bộ căn nhà và mái che nhà trước có chiều ngang 05 -6,7m, dài 19,5m. Khi xây dựng nhà anh A, chị B chưa được cấp phép xây dựng. Khi xây dựng nhà có kết cấu là cột bê tông cốt thép, vách xây tường 04 phía, nền móng cừ sạn, nền lát gạch ceramic và tráng xi măng. Vào cuối tháng 4/2019, anh C và chị D làm nhà trên phần đất cặp với nhà của anh A, chị B; quá trình thi công anh C, chị D đã dùng máy hơi để ép cừ bê tông khiến nhà anh A, chị B bị hư hỏng gồm: phần đà nhà bị lún, tường và cột bị nứt, nền nhà bị lún, cửa không đóng mở được.
Tại đơn khởi kiện ngày 23/5/2019 và quá trình tố tụng, anh A, chị B yêu cầu anh C, chị D bồi thường thiệt hại căn nhà với số tiền 250.000.000 đồng; đến ngày 07/11/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm anh A, chị B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh C, chị D bồi thường căn nhà theo kết quả giám định là 158.133.000 đồng. Trong đó, chi phí sửa chữa hư hỏng là 63.694.000 đồng và chi phí khắc phục hiện tượng nghiêng lún là 94.439.000 đồng. Ngoài ra, anh A, chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
Đồng bị đơn anh C và chị D trình bày:
Vào tháng 4 năm 2019, anh C, chị D tiến hành xây nhà trên phần đất giáp với căn nhà của anh A, chị B; quá trình thi công có dùng máy để ép cọc bê tông trên đất, thời gian thi công được nửa tháng thì bên phía anh A, chị B không đồng ý cho thi công với lý do là việc xây nhà của anh C, chị D làm ảnh hưởng đến nhà của anh A, chị B.
Anh C, chị D có qua nhà anh A, chị B vào ngày 02/5/2019 (dương lịch) xem xét việc ảnh hưởng thì thấy bức tường bên nhà anh A, chị B có bị nứt nhỏ nhưng đây không phải là thiệt hại lớn. Trước khi thi công anh C, chị D tháo dỡ nhà cũ và chừa lại phần bức tường kế bên phía nhà anh A, chị B, việc thi công căn nhà của anh C, chị D nằm bên trong bức tường của căn nhà cũ. Do đó việc ép cọc cừ không làm thiệt hại đến căn nhà của anh A, chị B. Nên anh C, chị D không đồng ý bồi thường thiệt hại căn nhà cho anh A, chị B với số tiền 158.133.000 đồng.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2021/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh A và chị B về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
- Buộc anh C có nghĩa vụ bồi thường cho anh A và chị B số tiền khắc phục sửa chữa nhà bị hư hỏng là 19.159.000 đồng. Buộc chị D có nghĩa vụ bồi thường cho anh A và chị B số tiền khắc phục sửa chữa nhà bị hư hỏng là 19.159.000 đồng.
- Bác một phần yêu cầu khắc phục, sữa chữa nhà bị hư hỏng của anh A và chị B số tiền là 25.331.000 đồng.
- Bác yêu cầu bồi thường khắc phục nhà nghiêng, lún của anh A và chị B số tiền là 94.439.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất trong giai đoạn thi hành án; chi phí giám định; án phí; quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 7 năm 2021, nguyên đơn anh A và chị B kháng cáo yêu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của anh chị, buộc anh C, chị D bồi thường khắc phục nghiêng, lún nhà với số tiền là 94.439.000 đồng; Không đồng ý chịu chi phí giám định và án phí như án sơ thẩm đã tuyên mà yêu cầu bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí giám định và án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu kháng nghị tại Quyết định kháng nghị số 08/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27/7/2021 đề nghị sửa một phần án sơ thẩm. Đề nghị sửa một phần án sơ thẩm đối với các vấn đề sau: số tiền chi phí khắc phục, sữa chữa nhà bị hư hỏng nguyên đơn bị bác yêu cầu là 25.376.000 đồng; nguyên đơn bị bác yêu cầu đối với số tiền 119.815.000 đồng nên phải chịu án phí trên số tiền 119.815.000 đồng; án phí bị đơn Ngoan và Ni phải chịu tương ứng với số tiền các đương sự phải trả cho nguyên đơn mới đúng theo khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 48/2021/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, qua ý kiến trình bày của các đương sự, đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh A và chị B cho rằng anh anh C và chị D đã có hành vi xâm phạm đến tài sản của anh chị nên khởi kiện tại Tòa án buộc anh C, chị D bồi thường thiệt hại về tài sản; các bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện N thụ lý, giải quyết sơ thẩm là phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp. Đồng bị đơn anh C, chị D đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đồng bị đơn.
Về nội dung: Xét căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của anh A và chị B đối với anh C và chị D: Vào khoảng cuối tháng 4/2019, anh C, chị D tiến hành xây dựng nhà trên phần đất cặp nhà anh A, chị B. Quá trình xây dựng bên anh C có dùng máy ép hơi để ép cừ bê tông. Sau khi anh A, chị B phát hiện nhà có bị ảnh hưởng nên ngăn cản việc xây dựng; anh C, chị D có qua nhà anh A, chị B xem xét và phát hiện có vết nứt bên trong nhà của anh A, chị B. Đây là những sự việc được các bên đương sự thống nhất thừa nhận nên là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh A, chị B cho rằng nhà anh chị bị hư hỏng là do anh C, chị D xây dựng nhà là ảnh hưởng, trong khi anh C, chị D cho rằng vết nứt này là những vết nứt cũ, không liên quan đến việc anh C, chị D xây dựng nhà nên không đồng ý thỏa thuận bồi thường thiệt hại.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự và căn cứ vào Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau: Phải có thiệt hại xảy ra; Phải có hành vi trái pháp luật; Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; Phải có lỗi của người gây ra thiệt hại. Căn cứ Kết luận kiểm định ngày 30/10/2019 của Công ty cổ phần kiểm định xây dựng Sài Gòn đã kết luận: “Tại thời điểm khảo sát hư hỏng hiện trạng kiến trúc và kết cấu căn trình nhà nguyên đơn có các dạng hư hỏng chủ yếu như: tường bị nứt, thấm; nứt nền sân láng vữa xi, nứt bể gạch lát nền, hư hỏng trần…” và “nguyên nhân chủ yếu gây ra hư hỏng và hiện tượng nghiêng lún của công trình nhà ông (bà) A – B chủ yếu là do quá trình thi công xây dựng mới nhà ông (bà ) C – D”. Như vậy, căn cứ vào kết luận kiểm định đủ cơ sở xác định trong vụ việc này, thiệt hại đã có xảy ra trên thực tế, nguyên nhân nhà của anh A, chị B nghiêng, nứt là do quá trình anh C, chị D thi công, xây dựng nhà gây ra, có hành vi gây ra thiệt hại cũng như mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi, đồng thời, có lỗi của anh C, chị D trong việc gây ra thiệt hại. Cấp sơ thẩm xác định có phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của anh C, chị D đối với anh A, chị B là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của anh A về việc buộc anh C, chị D bồi thường khắc phục nghiêng, lún nhà với số tiền là 94.439.000 đồng: Xét thấy, số tiền 94.439.000 đồng anh A, chị B yêu cầu là dựa trên Kết luận kiểm định ngày 30/10/2019 của Công ty cổ phần kiểm định xây dựng Sài Gòn. Tuy nhiên, kiểm tra các nội dung của quyết định trưng cầu giám định số 07 ngày 12/7/2019 thì Kết luận kiểm định của Công ty cổ phần kiểm định xây dựng Sài Gòn chỉ xác định được độ nghiêng, nứt; diện tích nghiêng nứt và nguyên nhân dẫn đến việc nghiêng nứt, Công ty chưa đề ra các giải pháp thiết kế khắc phục độ nghiêng, lún công trình nhà của anh A, chị B, chưa tính khối lượng công việc cụ thể để khắc phục và dự toán chi phí khắc phục nghiêng, lún; số tiền 94.439.000 đồng chỉ là giá trị tạm tính để tham khảo. Tại cấp sơ thẩm, Công ty cổ phần tư vấn và kiểm định xây dựng Bạc Liêu đã xác định: Về chi phí khắc phục nghiêng, lún theo hồ sơ kiểm định của Công ty cổ phần kiểm định xây dựng Sài Gòn “Vấn đề này Công ty Cổ phần Tư vấn và kiểm định xây dựng Bạc Liêu đã nêu trong văn bản số 106/CTY-TTGS ngày 08/7/2020 là giá trị khắc phục nghiêng, lún do Công ty Cổ phần kiểm định xây dựng Sài Gòn lập chỉ là tạm tính (các bản vẽ trong kết quả kiểm định chỉ đo vẽ độ nghiêng của cột, độ lún của nền,… nhưng chưa có giải pháp thiết kế, khắc phục cụ thể) nên chưa có cơ sở xác định giá trị này (để có đủ cơ sở xác định giá trị này thì phải có bản vẽ thiết kế chi tiết, đủ số liệu để tính toán được khối lượng công việc cụ thể từ đó mới tính được giá trị dự toán khắc phục nghiêng lún)” (công văn số 149/CV-CTYKĐ ngày 07/9/2020 của Công ty cổ phần tư vấn và kiểm định xây dựng Bạc Liêu). Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã yêu cầu anh A, chị B tìm kiếm, liên hệ với các đơn vị đủ điều kiện năng lực thực hiện chức năng giám định tư pháp trong lĩnh vực xây dựng và thông báo cho Tòa án biết để tiến hành thủ tục trưng cầu giám định. Tuy nhiên, anh A, chị B không đồng ý thực hiện, không có yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục trưng cầu giám định và yêu cầu Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để tiếp tục giải quyết. Ngoài ra, anh A, chị B không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh chi phí khắc phục nghiêng, lún của căn nhà là 94.439.000 đồng nên cấp sơ thẩm bác yêu cầu bồi thường chi phí khắc phục nghiêng, lún nhà 94.439.000 đồng của anh A, chị B là có căn cứ, đã xem xét, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật đúng. Tại cấp phúc thẩm, anh A, chị B cũng không cung cấp thêm chứng cứ mới và cũng không yêu cầu trưng cầu giám định đối với chi phí khắc phục độ nghiêng, lún nhà nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh A, chị B.
Xét kháng cáo của anh A về việc không đồng ý chịu chi phí giám định và án phí như án sơ thẩm đã tuyên: Căn cứ Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về “Nghĩa vụ chịu chi phí giám định” thì anh A và chị B là người yêu cầu giám định và kết quả giám định chứng minh yêu cầu của anh chị chỉ có căn cứ một phần nên anh chị phải chịu một phần chi phí giám định. Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Do đó, việc anh A, chị B kháng cáo không đồng ý chịu chi phí giám định và án phí là không có căn cứ, không phù hợp quy định pháp luật nên không được chấp nhận.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu: Đối với nội dung số tiền chi phí khắc phục, sữa chữa nhà bị hư hỏng nguyên đơn bị bác yêu cầu chính xác là 25.376.000 đồng nhưng cấp sơ thẩm tuyên bác 25.331.000 đồng là không chính xác, cần sửa án sơ thẩm để đảm bảo tính chính xác của bản án. Đối với nội dung kháng nghị liên quan đến số tiền nguyên đơn bị bác yêu cầu, xét thấy, nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn bồi thường tổng cộng 158.133.000 đồng và đủ căn cứ chấp nhận số tiền buộc bị đơn bồi thường là 38.318.000 đồng nên số tiền nguyên đơn bị bác yêu cầu là 119.815.000 đồng đúng như kháng nghị của Viện kiểm sát. Như vậy, số tiền án phí nguyên đơn phải chịu do bị bác yêu cầu là 119.815.000 đồng x 5% = 5.990.750 đồng (làm tròn số là 5.991.000 đồng). Đối với nội dung kháng nghị về án phí bị đơn Ngoan và Ni phải chịu, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí tương ứng yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Do đó, căn cứ vào số tiền các đương sự phải trả cho nguyên đơn thì số tiền án phí của anh C và chị D mỗi người phải chịu là: 19.159.000 đồng x 5% = 957.950 đồng (làm tròn số là 958.000 đồng). Do đó, đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sửa một phần án sơ thẩm đối với các nội dung theo kháng nghị của Viện kiểm sát.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sửa một phần Bản án số 48/2021/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bạc Liêu. Như đã phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Án phí: Do nguyên đơn kháng cáo và không được chấp nhận, việc sửa án sơ thẩm là do chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và không liên quan đến nội dung kháng cáo của anh A, chị B nên anh A, chị B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát liên quan đến án phí nên xác định lại mức án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố ttụng dân sự và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, anh A, chị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.991.000 đồng; anh C và chị D mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 958.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của anh A; Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2021/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 164, 170, 174, 589, 605 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Thông tư số 05/2015/TT-BXD ngày 30/10/2015 của Bộ xây dựng quy định về quản lý chất lượng xây dựng và bảo trì nhà ở riêng lẻ;
- Căn cứ Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ khoản 4 Điều 26; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh A và chị B về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
2. Buộc anh C có nghĩa vụ bồi thường cho anh A và chị B số tiền khắc phục sửa chữa nhà bị hư hỏng là 19.159.000 đồng.
3. Buộc chị D có nghĩa vụ bồi thường cho anh A và chị B số tiền khắc phục sửa chữa nhà bị hư hỏng là 19.159.000 đồng.
4. Bác một phần yêu cầu khắc phục, sữa chữa nhà bị hư hỏng của anh A và chị B số tiền là 25.376.000 đồng
5. Bác yêu cầu bồi thường khắc phục nghiêng, lún của anh A và chị B số tiền là 94.439.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
6. Về chi phí giám định: Anh A, chị B phải chịu 20.100.000 đồng và anh C, chị D mỗi người phải chịu 10.050.000 đồng.
Anh A, chị B đã dự nộp 38.000.000 đồng; anh C, chị D đã dự nộp 2.200.000 đồng đã chi phí hết. Buộc anh C và chị D mỗi người nộp 8.950.000 đồng để hoàn trả cho anh A, chị B.
7. Về án phí:
7.1. Án phí sơ thẩm: Anh A, chị B phải chịu 5.991.000 đồng, anh A và chị B đã nộp tiền tạm ứng án phí 6.250.000 đồng tại lai thu số 0014091 ngày 27/5/2019 của Chi cục thi hành án Ngân sự huyện N được chuyển thu án phí 5.991.000 đồng; Anh A, chị B được nhận lại 259.000 đồng.
Buộc anh C, chị D mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 958.000 đồng.
7.2. Án phí phúc thẩm: Anh A , chị B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, anh A, chị B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004806 ngày 02/8/20 được chuyển thu án phí phúc thẩm toàn bộ 300.000 đồng.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh (01 bản); - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02 bản); - TAND huyện N (01 bản); - CCTHADS huyện N (01 bản); - Các đương sự (04 bản); - Lưu HS, Tổ HCTP (01 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký tên và đóng dấu Châu Minh Nguyệt |