vanban.org

Bản án 101/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 15/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24.7.2020. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cường phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
A
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q.LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2020/HS-ST
Ngày: 15.12.2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Trịnh Văn Bạo

2.Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bão - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2020/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C (Tên gọi khác: Cu Trớt) - Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1983 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn An H , xã Duy Tr , huyện Duy X , tỉnh Quảng N ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn T (c) và bà Lê Thị X (Sinh năm 1952); Gia đình có ba anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ là Nguyễn Thị K (Đã ly hôn) và có 01 con tên Nguyễn Văn L (sinh năm 2011).

Tiền án:

- Ngày 18/8/2006, bị Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án số: 1163/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/10/2008.

- Ngày 11/6/2009, bị Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ, T. Quảng Nam xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 45/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/5/2010.

- Ngày 25/9/2012, bị Tòa án nhân dân TP. Hội An, T. Quảng Nam xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 42/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 31/5/2015.

- Ngày 20/4/2016, bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số: 11/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 05/01/2020.

Tiền sự: Chưa.

Nhân thân: Ngày 11/9/2001, UBND tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 3361 đưa đi cơ sở giáo dục tại Cơ sở giáo dục Hoàn Cát, tỉnh Quảng Trị trong thời hạn 18 tháng.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng từ ngày 24.7.2020. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Bà Đặng Thị Xuân Th – Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ 67, phường Hòa Khánh N , quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bà Võ Thị Kim Y – Sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ 42, phường Thanh Khê Đ , quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bà Lê Thị Thanh T – Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số 273/14 Nguyễn Công Hoan, tổ 48 phường Hòa An, quận Cẩm L, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bà Huỳnh Thị Lệ Nh – Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ 34 Thủy Tú, phường Hòa Hiệp B , quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

- Bà Phan Thị Thanh T – Sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số 395 đường Âu Cơ, phường Hòa Khánh B , quận L , thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

- Ông Lê Ngọc H – Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Số 395 đường Âu Cơ, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị Hồng B – Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ 39, phường Hòa Khánh B , quận L , thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân không có nghề nghiệp và không có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của những người kinh doanh buôn bán tại địa bàn quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng. Khoảng 06h00’ ngày 24/7/2020, Nguyễn Văn C điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Exiter, màu xanh, không gắn biển kiểm soát đến cửa hàng bán tạp hóa tại số 271 đường Âu Cơ, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu của bà Phạm Thị Ba (Sn: 1967) và giả vờ hỏi mua 01 mũ lưỡi trai màu đỏ để lợi dụng sơ hở của bà Ba nhằm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Thực hiện kế hoạch tuần tra kiểm soát, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an Q. Liên Chiểu phối hợp với Công an P. Hòa Khánh Bắc đang tuần tra thì phát hiện C có nhiều biểu hiện nghi vấn nên lực lượng làm nhiệm vụ tiếp cận để xử lý. Phát hiện có người đến gần, C bỏ chạy bộ tẩu thoát, và để lại xe môtô nêu trên. Kiểm tra xe môtô này có đặc điểm: loại Yamaha Exiter, màu xanh, bên trong cốp xe có 01 biển kiểm soát: 92D1 - 458.95. Qua xác minh, xe mô tô trên thuộc sở hữu của Nguyễn Văn C. Trưa ngày 24/7/2020, lực lượng làm nhiệm vụ đến xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam triệu tập Nguyễn Văn C để làm việc, C tự nguyện giao nộp 6.000.000 đồng là tiền C đã trộm cắp có được và 02 mũ bảo hiểm fullface mà C đội để đi trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan điều tra, C đã khai nhận thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Liên Chiểu từ tháng 06/2020 đến tháng 07/2020 như sau:

- Vụ thứ 1: Vào khoảng 07h30’ ngày 22/06/2020, chị Đặng Thị Xuân Th (Sn: 1984; trú: Tổ 67 phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu, Đà Nẵng) đang bán hàng tại địa chỉ số 298 Hoàng Văn Thái, Liên Chiểu, Đà Nẵng thì Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô hiệu Exciter nêu trên vào giả vờ hỏi mua thức ăn cho gà. Lúc này, chị Thủy để 01 túi xách màu đen (đã cũ, không còn giá trị sử dụng) trên ghế xếp trong cửa hàng, bên trong túi xách có để tiền mặt là 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) và một số giấy tờ cá nhân mang tên Đặng Thị Xuân Th . Lợi dụng lúc chị Thủy đang lấy hàng để bán, C đã lén lút lấy trộm túi xách bên trong có tài sản nêu trên của chị Th Nguyễn Thị Hồng Ba và lên xe tẩu thoát đến một con đường vắng (không rõ địa chỉ), C lấy hết số tiền này và vứt túi xách lại bên đường. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được những tài sản này.

- Vụ thứ 2: Vào khoảng 09h00’ ngày 05/07/2020 chị Võ Thị Kim Y (Sn: 1986; trú: Tổ 42 P. Thanh Khê Đông, Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng) đang nấu ăn tại quán cơm bên đường A02, thuộc tổ 35, phường Hòa Hiệp Nam, Liên Chiểu, Đà Nẵng thì C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter, đội mũ bảo hiểm fullface vào quán của chị Yến để hỏi mua đồ nhậu và đi vào trong bếp của chị Yến. Sau đó, chị Yến chuẩn bị đồ nhậu bán cho C và để 01 túi xách bên trong có 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền mặt và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu trắng ở cạnh bếp. Lợi dụng sơ hở của chị Yến, C đã lấy trộm túi xách nêu trên và lên xe mô tô tẩu thoát. C đi đến 01 hẻm vắng (không rõ địa chỉ) rồi lấy hết số tiền trên rồi vứt lại túi xách bên đường. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được những tài sản này.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 túi xách bằng thổ cẩm có hoa văn ca rô là 300.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại của 01 điện thoại Iphone X màu trắng là: 8.000.000 đồng.

- Vụ thứ 3: Vào khoảng 16h30’ ngày 09/7/2020, chị Lê Thị Thanh T (Sn: 1987, trú: tổ 48, P. Hòa An, Q. Cẩm Lệ) đang bán hàng tại quán cà phê của chị mở tại số 119 đường Nguyễn Chánh, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng thì C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter của mình đến hỏi mua nước. Lợi dụng lúc chị Tâm đang bán hàng, C lấy trộm 01 túi xách bên trong có số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và giấy tờ tùy thân của chị Tâm để tại quầy bán hàng rồi điều khiển xe đến một con đường vắng (không rõ địa chỉ) lấy hết số tiền trên rồi vứt túi xách lại bên đường. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được những tài sản này.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 túi xách da màu nâu kích thước 22x23cm là: 500.000 đồng.

- Vụ thứ 4: Vào khoảng 09h00’ ngày 12/07/2020, chị Huỳnh Thị Lệ Nh (Sn: 1985; trú: Tổ 34 phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng) đang bán hàng tại cửa hàng điện nước Cu Đê, tại địa chỉ Lô 39 đường Nguyễn Tất Thành nối dài, phường Hòa Hiệp Nam, Liên Chiểu, Đà Nẵng thì C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exiter vào quán của chị Nhung để hỏi mua dụng cụ dùng trong xây dựng. Lợi dụng lúc chị Nhung bán hàng thì C đã lấy trộm 01 túi xách của chị Nhung để tại ghế đá ngay trước cửa hàng, bên trong có 01 nhẫn vàng Ý và số tiền mặt là 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng) và một số giấy tờ tùy thân của chị Nhung rồi tẩu thoát. C điều khiển xe đến một con đường vắng (không rõ địa chỉ) lấy hết số tiền trên rồi vứt túi xách lại bên đường. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được những tài sản này.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 túi xách da màu đen là: 600.000 đồng; 01 nhẫn bằng kim loại không xác định được giá trị.

- Vụ thứ 5: Vào khoảng 05h45’ ngày 17/07/2020, chị Phan Thị Thanh T (Sn: 1997; trú: Sổ 395 đường Âu Cơ, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) đang bán bánh mỳ tại trước nhà số 395 đường Âu Cơ, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu thì C điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exiter của mình vào quán của chị Tuyền để hỏi mua bánh mỳ. Lợi dụng lúc chị T bán hàng thì C đã lấy trộm 01 ví da có chữ LV của vợ chồng chị Tuyền và anh Lê Ngọc H (SN: 1995, trú tổ 42, P. Hòa Phát, Q. Cẩm Lệ) để tại ghế ngồi gần tủ đựng bánh mỳ, bên trong số tiền mặt là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) rồi tẩu thoát. Sau đó, C điều khiển xe đến một con đường vắng (không rõ địa chỉ) lấy hết số tiền trên rồi vứt chiếc ví da lại bên đường. Cơ quan điều tra chưa thu hồi được những tài sản này.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 ví da mặt trước có chữ LV là: 600.000 đồng.

- Vụ thứ 6: Vào khoảng 06h45’ ngày 17/07/2020, chị Nguyễn Thị Hồng B (Sn: 1984; trú: Số 435 đường Nguyễn Lương Bằng, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) đang bán cà phê tại nhà số 435 đường Nguyễn Lương Bằng, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu thì C điều khiển xe mô tô Yamaha Exiter của mình vào quán của chị Ba để hỏi mua cà phê và nước uống. Lợi dụng lúc chị Ba đang bán hàng thì C đã lấy trộm 01 ví da màu đen của chị Ba bên trong số tiền mặt là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), sau đó tẩu thoát.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu xác định: Giá trị sử dụng còn lại của 01 ví da màu đen kích thước 10x20cm là 250.000 đồng.

* Vật chứng tạm giữ:

- 01 (một) Xe môtô hiệu Yamaha Exiter, màu xanh, số khung: RLCUG0610GY345323, số máy: G3D4E362441.

- 01 (một) biển kiểm soát: 92D1 - 458.95.

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 6.000.000 đồng.

- 01 mũ bảo hiểm Fullface màu xám có dán chữ Andes HELMETS màu đỏ phía trước;

- 01 mũ bảo hiểm Fullface màu đen, họa tiết đỏ - trắng có in chữ agu ở phía trước;

* Về dân sự: Quá trình điều tra, các bị hại – bà Đặng Thị Xuân Th yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 55.000.000 đồng, bà Võ Thị Kim Y yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 17.300.000 đồng, bà Huỳnh Thị Lệ Nh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 24.100.000 đồng, 02 bị hại Phan Thị Thanh T và Lê Ngọc H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 9.600.000 đồng. Tổng số tiền các bị hại nêu trên yêu cầu bồi thường là: 106.000.000 đồng. Riêng 02 bị hại Lê Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Hồng B không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, hiện bị cáo vẫn chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, c, g Khoản 2, Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm b, c, g Khoản 2, Điều 173; các điểm r, s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn C từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về dân sự: Đề nghị Hội đông xét xử buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại – bà Đặng Thị Xuân Th số tiền 55.000.000đồng, bà Võ Thị Kim Y số tiền 17.300.000đồng, bà Huỳnh Thị Lệ Nh số tiền 24.100.000đồng, bà Phan Thị Thanh T và Lê Ngọc H số tiền 9.600.000đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) Xe môtô hiệu Yamaha Exiter, màu xanh, số khung: RLCUG0610GY345323, số máy: G3D4E362441 và 01 (một) biển kiểm soát: 92D1 - 458.95; Trả lại cho bị cáo C 01 mũ bảo hiểm Fullface màu xám có dán chữ Andes HELMETS màu đỏ phía trước và 01 mũ bảo hiểm Fullface màu đen, họa tiết đỏ - trắng có in chữ agu ở phía trước; Quy trữ số tiền 6.000.000đồng để đảm bảo thi hành án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn C : Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình sai trái, xin lỗi các bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người bị hại cùng với tang vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Trong một tháng từ tháng 6/2020 đến tháng 7/2020, với thủ đoạn đến các cửa tiệm buôn bán trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng hỏi mua hàng hóa rồi lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản C đã lén lút trộm cắp tài sản rồi ra xe tẩu thoát. Nguyễn Văn C đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản của các bị hại: Đặng Thị Xuân Thủy, Võ Thị Kim Yến, Huỳnh Thị Lệ Nhung, Phan Thị Thanh Tuyền, Lê Ngọc Hoàng, Lê Thị Thanh T và Nguyễn Thị Hồng B với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 118.250.000 đồng (Một trăm mười tám triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), số tiền có được từ việc phạm tội C dùng làm nguồn sống chính cho bản thân, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác làm nghề sinh sống. Từ năm 2006 đến nay, bị cáo liên tục bị các Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân TP. Tam Kỳ, T. Quảng Nam, Tòa án nhân dân TP. Hội An, T. Quảng Nam và Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2020, đến nay vẫn chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000đồng”, “Có tính chất chuyên nghiệp” và “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có khả năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vì hám lợi, lười lao động và để có tiền phục vụ cho nhu cầu cá nhân nuôi sống bản thân nên bị cáo bất chấp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác ngay giữa ban ngày, thể hiện sự liều lĩnh táo tợn xem thường pháp luật. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm là cần thiết.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn C sáu lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo C có nhân thân xấu: Ngày 11/9/2001, UBND tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 3361 đưa đi cơ sở giáo dục tại Cơ sở giáo dục Hoàn Cát, tỉnh Quảng Trị trong thời hạn 18 tháng.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận thêm các lần trộm cắp trước đó nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bị hại Đặng Thị Xuân Th yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 55.000.000 đồng. Bị hại Võ Thị Kim Y yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 17.300.000 đồng. Bị hại Huỳnh Thị Lệ Nh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 24.100.000 đồng; 02 bị hại Phan Thị Thanh T và Lê Ngọc H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền: 9.600.000 đồng. Tổng số tiền các bị hại nêu trên yêu cầu bồi thường là: 106.000.000 đồng. Xét yêu cầu trên là có căn cứ và bị cáo Nguyễn Văn C đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo C phải có nghĩa vụ bồi thường cho những người bị hại trên.

Riêng bà Lê Thị Thanh T và bà Nguyễn Thị Hồng B không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Exiter, màu xanh, số khung: RLCUG0610GY345323, số máy: G3D4E362441 và 01 (một) biển kiểm soát: 92D1 - 458.95 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) là tài sản của bị cáo C nên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 mũ bảo hiểm Fullface màu xám có dán chữ Andes HELMETS màu đỏ phía trước và 01 mũ bảo hiểm Fullface màu đen, họa tiết đỏ - trắng có in chữ agu ở phía trước là tài sản của bị cáo C cần trả lại cho bị cáo.

Trong vụ án này, vào sáng ngày 24/7/2020, tại cửa hàng tạp hóa của bà Phạm Thị Ba, địa chỉ: 271 đường Âu Cơ, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu, bị can Nguyễn Văn C chuẩn bị thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên, C chưa tiếp cận được và chưa trộm cắp được bất kỳ tài sản gì nên hành vi của C chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Quá trình điều tra, C khai nhận có dùng số tiền trộm cắp được sử dụng vào việc đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền tại huyện Duy X , tỉnh Quảng N . Tuy nhiên, C không nhớ rõ địa điểm, cũng không xác định được những người cùng tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với C về hành vi đánh bạc là có cơ sở.

Đối với chiếc nhẫn bằng kim loại vàng của bị hại Huỳnh Thị Lệ Nh bị chiếm đoạt, chị Nhung không cung cấp được đặc điểm của tài sản và giấy tờ chứng minh nguồn gốc của tài sản và quá trình định giá không xác định được giá trị tài sản, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí:

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 5.300.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 47; Điều 48; Điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; Các điểm r, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Các điều 584; 586 và 589 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24.7.2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đặng Thị Xuân Th số tiền 55.000.000đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), bà Võ Thị Kim Y số tiền 17.300.000 đồng (Mười bảy triệu, ba trăm ngàn đồng), bà Huỳnh Thị Lệ Nh số tiền: 24.100.000 đồng (Hai mươi triệu, một trăm ngàn đồng), bà Phan Thị Thanh T và Lê Ngọc H số tiền 9.600.000 đồng (Chín triệu, sáu trăm ngàn đồng).

Tổng số tiền bị cáo C bồi thường cho người bị hại là: 106.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Exiter, màu xanh, số khung: RLCUG0610GY345323, số máy: G3D4E362441 và 01 (một) biển kiểm soát: 92D1 - 458.95.

- Tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án đối với số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

- Trả lại cho bị cáo C 01 (một) mũ bảo hiểm Fullface màu xám có dán chữ Andes HELMETS màu đỏ phía trước và 01 (một) mũ bảo hiểm Fullface màu đen, họa tiết đỏ - trắng có in chữ agu ở phía trước.

(Toàn bộ tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05.11.2020 và Biên lai thu tiền số 009657 ngày 05.11.2020).

4. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.300.000đồng (Năm triệu, ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ