- Tranh chấp gì? án hình sự — "Moong Thị Thu - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch Th và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và điểm chỉ của bị cáo Moong Thị Th, bên tron…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:101/2020/HS-ST Ngày: 25/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Bá Ngọc.
2. Ông Moong Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2020/TLST-HS, ngày 8 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với:
Bị cáo Moong Thị Th. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản LT, xã Ch L, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Moong Thảo Kh (đã chết) và bà Moong Mẹ Kh (đã chết); Chồng: Cụt Văn V (đã chết); Con 06 con lớn nhất sinh năm 1988 nhỏ nhất sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 78/2014/HSST ngày 23/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán người”. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/12/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2020 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị Hồng - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Vi Khăm H, Sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản C, xã ChL, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ ngày 18/5/2020, Moong Thị Th đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực bản Minh Thành, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để tìm mua ma túy sử dụng, khi tới nơi Th gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 (Một) gói Heroine được gói bằng giấy trắng với số tiền 150.000 đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Th tiếp tục xin đi nhờ xe để về nhà, khi về tới nhà Moong Thị Th lấy gói ma túy mới mua được ra chia làm 03 (Ba) gói nhỏ được gói bằng vỏ bao Thốc lá, số còn lại được gói bằng bao potylen màu đen và cất giấu toàn bộ trong người. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/5/2020 khi Moong Thị Th đang đứng tại khu vực bản Lưu Tiến, xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Nậm Càn – Bộ đội biên phòng Nghệ An và ban Công an xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn phát hiện bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào ngày 21/5/2020 đã xác định: Chất màu trắng (nghi là heroine) Th giữ của Moong Thị Th có khối lượng 0,4 g (Không phẩy bốn gam). Hội đồng đã trích 0,1 g (Không phẩy một gam) để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 687/KL-PC09(MT) ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ Thật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng Th giữ của Moong Thị Th gửi tới giám định là ma túy (Heroine).
Cáo trạng số 97/CT-VKS-HS ngày 6/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An truy tố Moong Thị Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Moong Thị Th mức án từ 17 (Mười bảy) tháng đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và điểm chỉ của bị cáo Moong Thị Th, bên trong chứa số ma túy (heroine) có khối lượng còn lại là 0,3 g (Không phẩy ba gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị Hội đồng xét xử tịch Th và tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Moong Thị Th đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm Sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Moong Thị Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 30 ngày 20/5/2020, tại khu vực bản Lưu Tiến, xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Moong Thị Th là người có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (heroine) với khối lượng là 0,4g (Không phẩy bốn gam) thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất Nhà nước nghiêm cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như sức khỏe của con người là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, bị cáo có nhân thân xấu bị kết án về hành vi vi pháp luật mà không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân, bị cáo còn là người mẹ không làm gương để giáo dục các con tránh khỏi tác hại của các chất ma túy, mà bị cáo lại thiếu sự tu dưỡng rèn luyện nên đã nghiện ma túy. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có Th nhập, Không có công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và điểm chỉ của bị cáo Moong Thị Th, bên trong chứa số ma túy (heroine) có khối lượng còn lại là 0,3 g (Không phẩy ba gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch Th và tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Moong Thị Th, quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được danh tính, và địa chỉ cụ thể Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Moong Thị Th: 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch Th và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và điểm chỉ của bị cáo Moong Thị Th, bên trong chứa số ma túy (heroine) có khối lượng còn lại là 0,3 g (Không phẩy ba gam) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 7/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Moong Thị Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Moong Thị Th có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Công an huyện Kỳ Sơn; - UBND xã Chiêu Lưu. - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |