vanban.org

Bản án 101/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm 110/2020/HS-ST ngày 12/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Giao hồ sơ v án về Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương để điều tra xét xử l i theo quy định của pháp luật. Án phí phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công T - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Hủy Bản án hình sự sơ thẩm 110/2020/HS-ST ngày 12/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2020/HS-PT
Ngày: 21-7-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Luông;

Ông Lê Quân Vương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 95/2020/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Đinh Công T. Do có kháng cáo của bị cáo Đinh Công T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2020/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Đinh Công T, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2000 t i tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: Ấp Đ, xã N, huyện C tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công B sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị N sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ con; tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/01/2020 bị cáo có mặt t i phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Anh D – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Minh C thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Tháng 5/2018, Đinh Công T lên m ng xã hội Facebook thấy có chủ tài khoản quảng cáo nhận làm giấy tờ nên đã liên hệ đặt làm 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe h ng FC giả với giá 3.000.000 đồng. T ch p hình của mình rồi gửi kèm địa chỉ “Ấp Đ, xã N, huyện C tỉnh Trà Vinh” cho tài khoản này. Khoảng 01 tuần sau có 01 thanh niên đeo khẩu trang hẹn gặp T đường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và đưa cho T 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe h ng FC đều có hình ảnh của T nhưng mang tên Lê Văn K, sinh năm 1993; HKTT: Ấp Đ, xã N, huyện C tỉnh Trà Vinh và T đưa cho người này số tiền 3.000.000 đồng.

Ngày 12/7/2019, T sử d ng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe h ng FC mang tên Lê Văn K đến gặp ông Nguyễn Thanh H xin làm tài xế ô tô đầu kéo và được ông H nhận vào làm nhưng chưa ký hợp đồng lao động.

Ngày 15/7/2019, T được ông H giao xe ô tô đầu kéo biển số 61C-270.87 kéo theo rơ mooc biển số 61R-023.45 để đi ch hàng. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe trên lưu thông trên đường M thuộc khu phố B, phường B, thành phố T tỉnh Bình Dương thì xe bị thủng lốp nên dừng xe trước tiệm vá vỏ xe bên lề phải theo chiều từ thành phố T về phường A để vá vỏ. Lúc này ông Trần Thanh P điều khiển xe mô tô biển số 67T1-0368 lưu thông trên đường M hướng từ thành phố T về phường A, va ch m vào phía sau đuôi xe rơ mooc của xe đầu kéo do T điều khiển đang dừng bên đường để sửa xe. Hậu quả ông Trần Thanh P tử vong sau cấp cứu. Qua xác minh v t i n n giao thông phát hiện giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân mà T đang sử d ng là giả.

Theo Kết luận giám định số 310/GĐ-PC09 ngày 22/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: 01 chứng minh nhân dân số 334954205 mang tên “Lê Văn K” sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã N, huyện C tỉnh Trà Vinh đề ngày 25/5/2015 (ký hiệu A1) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử; 01 giấy phép lái xe (PET) số 940110000276 h ng A1 FC mang tên “Lê Văn K” sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã N, huyện C tỉnh Trà Vinh đề ngày 15/5/2017 (ký hiệu A2) là giấy phép lái xe giả.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2020/HS-ST ngày 12/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Đinh Công T ph m tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp d ng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử ph t bị cáo Đinh Công T 08 (tám) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 22/5/2020, bị cáo Đinh Công T có đơn kháng cáo xin được hư ng án treo.

T i phiên tòa đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Công T còn trong thời h n luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xét xử theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung t i phiên tòa bị cáo Đinh Công T khai nhận hành vi ph m tội như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo làm giấy tờ để xin việc làm sử d ng khi điều khiển phương tiện tham gia và xuất trình các giấy tờ giả khi xảy ra tai n n cho cơ quan chức năng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử d ng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Việc bị cáo cung cấp thông tin, hình ảnh để làm giấy tờ giả thì không rõ thời gian địa điểm và đối tượng làm nên không có căn cứ xử lý hành vi làm giả giấy tờ của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo về tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức” là không đúng quy định. Bị cáo sử d ng các giấy tờ giả vào m c đích xin việc làm lái xe do đó hành vi của bị cáo ph m tội “Sử d ng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định t i khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, về hình ph t mà Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng đối với bị cáo là phù hợp nên Viện kiểm sát xét thấy không cần thiết phải đề nghị hủy án để xác định l i tội danh của bị cáo mà đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định tội danh của bị cáo cho phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin được hư ng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Để đảm bảo tính giáo d c răn đe chung trong toàn xã hội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hư ng án treo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm về phần tội danh cho phù hợp.

Người bào chữa cho bị cáo cho rằng về tội danh thống nhất với quan điểm của đ i diện Viện kiểm sát vì bị cáo có m c đích xin việc làm lái xe để kiếm tiền ph giúp gia đình. Vì bị cáo chưa đủ tuổi nên đã đặt làm bằng lái xe h ng FC giả tuy nhiên muốn có bằng lái xe thì phải có chứng minh nhân dân nên có thể thấy m c đích của bị cáo là sử d ng tài liệu giả của cơ quan tổ chức. Về hình ph t người bào chữa mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: T i phiên tòa bị cáo hoàn toàn nhận tội bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải bị cáo ph m tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bị cáo có tuổi đời còn trẻ vì hoàn cảnh khó khăn và nhận thức về pháp luật còn h n chế nên mới vi ph m pháp luật. Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo có cơ hội được sửa sai áp d ng điểm i s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hư ng án treo.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hư ng án treo để có cơ hội chăm sóc gia đình người thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung: Tháng 5/2018, bị cáo Đinh Công T sử d ng m ng xã hội để liên l c với đối tượng không rõ nhân thân lai lịch đặt làm 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe h ng FC giả (các giấy tờ mang tên Lê Văn K, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã N huyện Càn Long tỉnh Trà Vinh) với giá 3.000.000 đồng nhằm m c đích xin việc làm lái xe thuê kiếm tiền. Bị cáo cung cấp thông tin cá nhân để người khác làm giả 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe h ng FC là hai giấy tờ giả. Hành vi của bị cáo T là hành vi ph m tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức” với tình tiết định khung “làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác” theo quy định t i điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuy nhiên Tòa án nhân dân thành phố T xử ph t bị cáo Đinh Công T về tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định t i khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là chưa áp d ng đúng về khung hình ph t đối với bị cáo.

Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp d ng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo quy định t i Điều 357 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó cần phải hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ về cho Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T điều tra xét xử l i theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc sửa tội danh và giữ nguyên hình ph t đối với bị cáo theo quyết định của bản án sơ thẩm là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Người bào chữa cho bị cáo đồng quan điểm với đ i diện Viện Kiểm sát về tội danh đối với bị cáo là không phù hợp nên không được chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đinh Công T không phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và Điều 358 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm 110/2020/HS-ST ngày 12/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Giao hồ sơ v án về Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương để điều tra xét xử l i theo quy định của pháp luật.

2. Án phí phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Đinh Công T không phải nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN THÀNH VIÊN

Cỡ chữ