- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Hoàng Tuấn K, bà Phạm Ngọc L với ông Nguyễn Văn Tr, bà Bùi Thị Bạch L1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Tuấn K, bà Phạm Ngọc L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2020/DS-ST Ngày: 10 – 8 – 2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự - vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Hằng
2. Ông Hồ Thanh Tùng
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự - vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2020/QĐXX-ST ngày 27 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Tuấn K, sinh năm: 1962 (có mặt).
Bà Phạm Ngọc L, sinh năm: 1962 (có mặt).
Địa chỉ: khu vực A H, phường B Th, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Bà Bùi Thị Bạch L1, sinh năm: 1980 (có mặt).
Địa chỉ: khu vực B A, phường B Th, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1971.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 6, thị trấn K C, huyện Ph H, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: khu vực B A, phường B Th, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Văn Tr: Bà Bùi Thị Bạch L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Tuấn K, bà Phạm Ngọc L cùng trình bày:
Vào năm 2019 ông Nguyễn Văn Tr và bà Bùi Thị Bạch L1 có vay của vợ chồng ông Hoàng Tuấn K, bà Phạm Ngọc L nhiều lần với tổng số tiền là 178.000.000 đồng, cụ thể các lần vay như sau:
Ngày 10/02/2019 (Dương lịch) vay số tiền 35.000.000 đồng.
Ngày 10/03/2019 (Dương lịch) vay số tiền 21.000.000 đồng.
Ngày 10/4/2019 (Dương lịch) vay số tiền 21.000.000 đồng.
Ngày 10/5/2019 (Dương lịch) vay số tiền 21.000.000 đồng.
Ngày 10/6/2019 (Dương lịch) vay số tiền 17.000.000 đồng.
Ngày 10/7/2019 (Dương lịch) vay số tiền 17.000.000 đồng.
Ngày 10/8/2019 (Dương lịch) vay số tiền 17.000.000 đồng.
Ngày 10/9/2019 (Dương lịch) vay số tiền 12.000.000 đồng.
Ngày 10/10/2019 (Dương lịch) vay số tiền 8.000.000 đồng.
Ngày 10/11/2019 (Dương lịch) vay số tiền 9.000.000 đồng.
Các bên thống nhất lập biên nhận nợ và thỏa thuận mức lãi suất là 6%/tháng. Từ khi vay vợ chồng ông Tr, bà Bạch L1 có trả lã cho ông K, bà Ngọc L được 04 lần với số tiền là 1.200.000 đồng. Sau đó vợ chồng ông Tr, bà Bạch L1 không trả vốn hay lãi suất gì cho ông K, bà Ngọc L. Ông K, bà Ngọc L đến nhà yêu cầu vợ chồng ông Tr, bà Bạch L1 trả số tiền nợ và lãi suất nhiều lần nhưng ông Tr, bà Bạch L1 chỉ hứa hẹn và không thực hiện.
Nay ông K, bà Ngọc L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Tr, bà Bùi Thị Bạch L1 có nghĩa vụ trả số tiền vốn là 178.000.000 đồng và lãi suất theo quy định là 1,5%/tháng kể từ ngày vay cho đến khi xét xử, trả một lần trong thời gian sớm nhất. Ông K, bà Ngọc L đồng ý trừ lại số tiền lãi 1.200.000 đồng ông Tr, bà L1 đã đóng lãi trước đây.
Bị đơn Bùi Thị Bạch L1 đồng thời đại diện ủy quyền của bị đơn Nguyễn Văn Tr trình bày: Năm 2017 - 2018 vợ chồng bà Bạch L1, ông Tr tham gia chơi hụi do vợ chồng bà Phạm Ngọc L làm chủ hụi. Sau khi hốt hụi do không có tiền đóng hụi chết nên vợ chồng bà viết biên nhận nợ tiền với hình thức vay mượn tiền cho ông K, bà Ngọc L. Cụ thể viết nhiều biên nhận với tổng cộng số tiền 178.000.000 đồng. Từ khi lập biên nhận nợ thì vợ chồng bà có trả cho ông K, bà Ngọc L được số tiền 1.200.000 đồng tiền lãi suất. Do làm ăn thua lỗ nên không có khả năng trả tiền cho ông K, bà Ngọc L đến nay. Nay ông K, bà Ngọc L khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Bạch L1, ông Tr trả số tiền vay 178.000.000 đồng và lãi suất 1,5%/tháng thì bà Bạch L1 cũng đồng ý. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện trả nợ nên bà Bạch L1 xin được trả dần mỗi tháng trả 500.000 đồng, trả cho đến khi hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự - vay tài sản” căn cứ Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất năm 2017 và 2018 vợ chồng bà Bạch L1, ông Tr tham gia chơi hụi do vợ chồng bà Phạm Ngọc L làm chủ hụi. Sau khi hốt hụi do không có tiền đóng lại hụi chết nên vợ chồng ông Tr, bà Bạch L1 viết nhiều biên nhận nợ tiền với vợ chồng ông K, bà Ngọc L, tổng cộng số tiền 178.000.000 đồng, mỗi biên nhận lãi suất hai bên thỏa thuận là 6%/tháng. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ và lãi suất một lần và trả trong thời gian sớm nhất. Bị đơn đồng ý trả số tiền nợ và lãi suất cho nguyên đơn nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thỏa thuận tiền hụi thành tiền vay giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện. Cụ thể các bên cùng thống nhất lập biên nhận với hình thức là vay mượn tiền. Tại phiên tòa, bị đơn cùng thừa nhận còn nợ của nguyên đơn số tiền vốn 178.000.000 đồng. Nhưng do điều kiện làm ăn thua lỗ nên không có tiền trả cho nguyên đơn.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Xét thấy, việc bị đơn ông Tr, Bạch L1 còn nợ tiền của nguyên đơn ông K, bà Ngọc L nhưng chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông K, bà Ngọc L nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lời ích hợp pháp của ông K, bà Ngọc L. Vì vậy, nguyên đơn Hoàng Tuấn K, Phạm Ngọc L khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 trả số tiền còn nợ 178.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Theo các biên nhận nợ do nguyên đơn cung cấp thể hiện lãi suất hai bên thỏa thuận là 06%/tháng. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất mức lãi suất là 1,5%/tháng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy đinh: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác…..”. Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận mức lãi suất 1,5%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng mức lãi suất 1,5%/tháng đối với số tiền vay từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/8/2020) cụ thể như sau:
- Số tiền 35.000.000 đồng vay ngày 10/02/2019 đến ngày xét xử là:
18 tháng x 35.000.000 đồng x 1,5% = 9.450.000 đồng.
- Số tiền 21.000.000 đồng vay ngày 10/3/2019 đến ngày xét xử là:
17 tháng x 21.000.000 đồng x 1,5% = 5.355.000 đồng.
- Số tiền 21.000.000 đồng vay ngày 10/4/2019 đến ngày xét xử là:
16 tháng x 21.000.000 đồng x 1,5% = 5.040.000 đồng.
- Số tiền 21.000.000 đồng vay ngày 10/5/2019 đến ngày xét xử là:
15 tháng x 21.000.000 đồng x 1,5% = 4.725.000 đồng.
- Số tiền 17.000.000 đồng vay ngày 10/6/2019 đến ngày xét xử là:
14 tháng x 17.000.000 đồng x 1,5% = 3.570.000 đồng.
- Số tiền 17.000.000 đồng vay ngày 10/7/2019 đến ngày xét xử là:
13 tháng x 17.000.000 đồng x 1,5% = 3.315.000 đồng.
- Số tiền 17.000.000 đồng vay ngày 10/8/2019 đến ngày xét xử là:
12 tháng x 17.000.000 đồng x 1,5% = 3.060.000 đồng.
- Số tiền 12.000.000 đồng vay ngày 10/9/2019 đến ngày xét xử là:
11 tháng x 12.000.000 đồng x 1,5% = 1.980.000 đồng.
- Số tiền 8.000.000 đồng vay ngày 10/10/2019 đến ngày xét xử là:
10 tháng x 8.000.000 đồng x 1,5% = 1.200.000 đồng.
- Số tiền 9.000.000 đồng vay ngày 10/11/2019 đến ngày xét xử là:
09 tháng x 9.000.000 đồng x 1,5% = 1.215.000 đồng.
Như vậy, tổng cộng số tiền lãi suất mà bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 phải trả cho nguyên đơn Hoàng Tuấn K, Phạm Ngọc L là 38.910.000 đồng. Bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 đã trả được số tiền 1.200.000 đồng nên bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 còn phải trả số tiền lãi suất cho nguyên đơn Hoàng Tuấn K, Phạm Ngọc L là 37.710.000 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Tuấn K, Phạm Ngọc L là có căn cứ để chấp nhận. Buộc bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 phải trả cho nguyên đơn Hoàng Tuấn K, Phạm Ngọc L số tiền là 215.710.000 đồng (trong đó tiền vốn là 178.000.000 đồng, tiền lãi suất là 37.710.000 đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 phải chịu nộp án phí có giá ngạch là 10.785.500 đồng (Mười triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn, năm trăm đồng). Bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 có đơn xin miễn giảm án phí do hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế dẫn đến không có đủ tài sản để nộp án phí và có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Bình Thạnh, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nên được Hội đồng xét xử chấp nhận giảm 50% án phí dân sự sơ thẩm. Như vậy, bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.392.750 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 357; Điều 463, Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Tuấn K, bà Phạm Ngọc L.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Tr, bà Bùi Thị Bạch L1 phải trả cho nguyên đơn Hoàng Tuấn K, Phạm Ngọc L số tiền là 215.710.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu, bảy trăm mười nghìn đồng), (trong đó tiền vốn là 178.000.000 đồng, tiền lãi suất là 37.710.000 đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Nguyễn Văn Tr, Bùi Thị Bạch L1 phải chịu nộp số tiền 5.392.750 đồng (Năm triệu, ba trăm chín mươi hai nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).
Nguyên đơn Hoàng Tuấn K, bà Phạm Ngọc L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.450.000 đồng (Bốn triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo lai thu số 0000445 phiếu lập ngày 15/6/2010 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày10/8/2020).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Lil |