vanban.org

Bản án 101/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Mỹ L. Buộc ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Mỹ L tổng số tiền là 2.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà L cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng ông H, bà Tr phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Bà Lê Mỹ L có nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Mỹ L -Nguyễn Hồng Hào"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Mỹ L. Buộc ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Mỹ L tổng số tiền là 2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2020/DS-ST
Ngày: 11-9-2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển.

Bà Phạm Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Viễn – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 477/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2020/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Mỹ L, sinh năm 1973; cư trú tại: Số 105 đường Tr, khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bà Lê Mỹ L: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1972; cư trú tại: Số 105 đường Tr, khóm 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Văn bản ủy quyền ngày 05/02/2020).

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1957; cư trú tại Khóm 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

2. Bà Phạm Thị Mỹ Tr; cư trú tại Khóm 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Trần Văn Đ trình bày: Từ năm 2017 đến năm 2019 bà Lê Mỹ L cho vợ chồng ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr vay tổng cộng là 2.290.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng/triệu. Các lần vay ông H có làm giấy nhận nợ cho bà L. Khi vay vợ chồng ông H, bà Tr thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất 154 tờ bản đồ số 06, địa chỉ khóm 6, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, diện tích 1.510,4m2 do ông Nguyễn Hồng H đứng tên. Cụ thể các lần vay như sau:

Ngày 12/9/2017 dl vay 500.000.000 đồng.

Ngày 22/4/2018 dl vay 250.000.000 đồng.

Ngày 23/4/2018 dl vay 250.000.000 đồng.

Ngày 22/9/2018 dl vay 750.000.000 đồng.

Ngày 22/01/2019 dl vay 315.000.000 đồng.

Ngày 07/4/2019 dl vay 500.000.000 đồng.

Các lần vay này ông H, bà Tr đóng lãi đầy đủ, còn từ ngày 07/4/2019 đến nay thì không trả vốn và lãi. Nay bà L yêu cầu vợ chồng ông H, bà Tr trả 2.290.000.000 đồng tiền vốn, trả lãi suất từ ngày 07/4/2019 cho đến nay. Quá trình ông H, bà Tr trả lãi 3%/tháng thì bà L chấp nhận đối trừ tính lãi theo Nhà nước quy định. Bà L đồng ý trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà Tr.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr, nhưng ông, bà không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà L; hai lần Tòa án thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng ông, bà cũng không tham dự.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Buộc ông H, bà Tr có nghĩa vụ trả cho bà L 2.290.000.000đ và tính lãi suất từ ngày 07/4/2019; đối trừ lại số tiền mà bị đơn trả lãi dư theo lãi suất nhà nước quy định để trừ vào số lãi phát sinh từ ngày 07/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm. Buộc bà L có nghĩa vụ trả lại cho ông H, bà Tr Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Mỹ L, thấy rằng: Ông H và bà Tr thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới, là cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông H, bà Tr nhưng ông H, bà Tr không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của bà L nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ căn cứ trên xét thấy, sáu hợp đồng vay tài sản nêu trên giữa bà L với ông H là có thực tế. Đồng thời tại Kết luật giám định số 100/GĐ-PC09 ngày 10/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Chữ ký và chữ viết tên Nguyễn Hồng H dưới mục “Bên vay” trên hai “Giấy nhận nợ” ngày 22/01/2019, ngày 07/4/2019 so với các mẫu chữ viết, chữ ký của ông Nguyễn Hồng H trong các tài liệu chứng cứ thu thập xác định do ông H ký và viết ra. Tức đến thời điểm ngày 07/4/2019 ông H vay của bà L 2.290.000.000đ. Bà L cho rằng ông H vay để vợ chồng kinh doanh mua bán tôm thịt, các lần vay và nhận tiền đều có ông H và bà Tr. Như nhận định trên do ông H, bà Tr không phản đối nên khoản nợ này được xác định là nợ chung của vợ chồng ông H theo quy định tại Điều 25, 27 khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về lãi suất: Do các lần cho vay các bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng là vượt mức lãi suất 20%/năm (tức 1,666%/tháng) được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên được đối trừ lãi như sau:

- Từ ngày 12/9/2017 dl đến ngày 16/10/2017 dl vay 500.000.000đ x 3%/tháng x 01 tháng 04 ngày = 17.000.000 đồng. Trong khi lãi 1,666%/tháng thì số tiền lãi là 500.000.000đ x 1,666%/tháng x 01 tháng 04 ngày = 9.440.000 đồng, chênh lệch 7.560.000đ.

- Từ ngày 17/10/2017 dl đến ngày 22/4/2018 dl vay 750.000.000đ x 3%/tháng x 06 tháng 05 ngày = 138.750.000 đồng. Trong khi lãi 1,666%/tháng thì số tiền lãi là 750.000.000đ x 1,666%/tháng x 06 tháng 05 ngày = 76.775.000 đồng, chênh lệch 61.975.000 đồng.

- Từ ngày 23/4/2018 dl đến ngày 21/9/2018 dl vay 1.000.000.000đ x 3%/tháng x 04 tháng 28 ngày = 148.000.000 đồng. Trong khi lãi 1,666%/tháng thì số tiền lãi là 1.000.000.000đ x 1,66%/tháng x 04 tháng 28 ngày = 82.215.000 đồng, chênh lệch 65.785.000 đồng.

- Từ ngày 22/9/2018 dl đến ngày 21/01/2019 dl vay 1.750.000.000đ x 3%/tháng x 03 tháng 29 ngày = 208.250.000 đồng. Trong khi lãi 1,666%/tháng thì số tiền lãi là 1.750.000.000đ x 1,666%/tháng x 03 tháng 29 ngày = 115.694.000 đồng, chênh lệch 92.556.000 đồng.

- Từ ngày 22/01/2019 dl đến ngày 06/4/2019 dl vay 2.065.000.000đ x 3%/tháng x 02 tháng 14 ngày = 152.810.000.000 đồng. Trong khi lãi 1,666%/tháng thì số tiền lãi là 2.065.000.000đ x 1,666%/tháng x 02 tháng 14 ngày = 84.893.000 đồng, chênh lệch 67.917.000 đồng.

Như vậy tổng cộng số tiền lãi mà vợ chồng ông H, bà Tr đã trả lãi nhiều hơn lãi suất nhà nước quy định là 295.793.000 đồng.

Từ ngày 07/4/2019 dl đến ngày 11/9/2020 dl (ngày xét xử sơ thẩm) vay 2.290.000.000 đồng x 1,666% x 17 tháng 04 ngày =653.660.653 đồng tiền lãi. Số tiền lãi này được đối trừ với số tiền lãi đã trả vượt theo quy định là 653.660.653 đồng - 295.793.000 đồng = 357.867.653 đồng.

Như vậy tổng tiền vốn và lãi buộc ông H, bà Tr có nghĩa vụ trả cho bà L là 2.647.867.653 đồng. Bà L có nghĩa vụ trả lại cho ông H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp là phù hợp.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông H, bà Tr phải chịu tương ứng với số tiền phải trả cho bà L.

Chi phí giám định: Do kết quả giám định chứng minh yêu cầu của bà L là có căn cứ nên ông H, bà Tr phải chịu chi phí giám định để trả lại cho bà L theo khoản 2 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 92, khoản 2 Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Mỹ L. Buộc ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Mỹ L tổng số tiền là 2.647.867.653 đồng (Hai tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà L cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng ông H, bà Tr phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Bà Lê Mỹ L có nghĩa vụ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất 154 tờ bản đồ số 06, địa chỉ khóm 6, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, diện tích 1.510,4m2 do ông Nguyễn Hồng H đứng tên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để trả lại cho ông Lê Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr liên đới chịu là 84.957.353 đồng (Tám mươi tư triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm năm mươi ba đồng). Bà Lê Mỹ L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà L 40.807.000 đồng (Bốn mươi triệu tám trăm lẻ bảy nghìn) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0010141 ngày 26/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

4. Chi phí trưng cầu giám định: Ông Nguyễn Hồng H và bà Phạm Thị Mỹ Tr liên đới chịu là 5.060.000 đồng (Năm triệu không trăm sáu chục nghìn đồng) để trả lại cho bà Lê Mỹ L.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà L cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng ông H, bà Tr phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Bà L có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông H và bà Tr có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ