vanban.org

Bản án 101/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 101/2020/DS-ST

Ngày: 31/07/2020

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Khanh. . 2. Ông Võ Lâm Sơn. Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phước Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên. Trong ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2020/TLST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2020/QĐST - DS ngày 19 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần BV; Trụ sở: Tòa nhà HM Town 412, NTMK, P5, Q3, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phúc H - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần BV (Quyết định ủy quyền số 363/2019/UQ-PCTT ngày 18/11/2019). Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Phúc H: Ông Trần Bình H (Có mặt); Địa chỉ: Số 183 - 185 THĐ, phường MB, thành phố LX, tỉnh An Giang (Giấy ủy quyền số 79/2020/UQ-TTQL&THN ngày 16/3/2020). 2. Bị đơn: Bà Trịnh Thị Ngọc D – Sinh năm 1989 (Vắng mặt); Địa chỉ: Ấp PT1, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai đại diện theo ủy quyền Ngân hàng thương mại cổ phần BV ông Trần Bình H trình bày, Ngân hàng thương mại cổ phần BV (sau đây gọi là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng số 0321900047700 vào ngày 18/02/2019 với bà Trịnh Thị Ngọc D số tiền vay 20.000.000đ, mục đích vay để tiêu dùng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 11,5%/năm. Hợp đồng giải ngân ngày 21/02/2019 theo giấy nhận nợ số 0321900047700001 với số tiền 20.000.000đ. Sau khi vay, bà D có trả được số tiền vốn, lãi 5.380.752đ (gồm vốn 3.945.358đ, lãi 1.435.394đ), thì ngưng không trả vốn lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà D trả nợ, nhưng bà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hiện bà D còn nợ Ngân hàng vốn 16.054.642đ và lãi trong hạn 2.016438đ; lãi quá hạn 394.796đ, tổng cộng 18.465.876đ. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần BV yêu cầu bà D trả tiền vốn 16.054.642đ, lãi tính đến ngày xét xử 2.411.234đ, tổng cộng 18.465.876đ và tính lãi phát sinh từ ngày 01/8/2020 theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng số 0321900047700 ngày 18/02/2019 cho đến khi trả dứt nợ. Bị đơn bà Trịnh Thị Ngọc D trong quá trình giải quyết đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập giải quyết, nhưng bà D vắng mặt không lý do chính đáng nên không lấy lời khai và hòa giải được. Tại phiên tòa, ông Trần Bình H rút lại yêu cầu tính lãi phạt lại chậm trả 80.204đ và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khác. Bà Trịnh Thị Ngọc D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa, nhưng bà D vắng mặt không lý do. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần BV. Buộc bà Trịnh Thị Ngọc D trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV vốn 16.054.642đ, lãi trong hạn 2.016438đ; lãi quá hạn 394.796đ, tổng cộng 18.465.876đ và lãi phát sinh kể từ ngày 01/8/2020 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng số 0321900047700. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

[1]- Về hình thức: Việc tranh chấp giữa các đương sự về Hợp đồng tín dụng, chủ thể một bên là Ngân hàng và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật. Bà Trịnh Thị Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị Ngọc D là có căn cứ.

Tại phiên tòa, ông Trần Bình H đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng rút lại yêu cầu tính lãi phạt lãi chậm trả, Hội đồng xét xử xét thấy, sự tự nguyện của ông Hoàng không trái với đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật, nên đình chỉ yêu cầu này. [2]- Về nội dung: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần BV với bà Trịnh Thị Ngọc D được xác lập trên cở sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. [2.1]- Căn cứ theo hợp đồng nêu trên thì trong quá trình thực hiện hợp đồng bà D đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm nghĩa vụ của người vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Việc Ngân hàng khởi kiện bà D yêu cầu phải thanh toán vốn, lãi còn nợ cho Ngân hàng là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc bà Trịnh Thị Ngọc D phải có nghĩa vụ thanh toán cho phía Ngân hàng tiền vốn và lãi suất phát sinh tính đến ngày xét xử 31/7/2020 (có bảng lãi kèm theo) là 18.465.876đ, trong đó nợ vốn gốc là 16.054.642đ, lãi là 2.411.234đ. [2.2]- Về lãi suất từ sau thời điểm xét xử, tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn có yêu cầu bên vay là bà D phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu trên là không trái với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Buộc bà Trịnh Thị Ngọc D phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 01/8/2020 cho đến khi trả hết nợ vốn cho Ngân hàng. [3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Trịnh Thị Ngọc D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Các Điều Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 244, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần BV. Buộc bà Trịnh Thị Ngọc D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV tiền vốn là 16.054.642đ (Mười sáu triệu, không trăm năm mươi bốn ngàn, sáu trăm bốn mươi hai đồng) và lãi 2.411.234đ (Hai triệu, bốn trăm mười một ngàn, hai trăm ba mươi bốn đồng), tổng cộng 18.465.876đ (Mười tám triệu, bốn trăm sáu mươi lăm ngàn, tám trăm bảy mươi sáu đồng).

Kể từ ngày 01/8/2020 bà Trịnh Thị Ngọc D phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký kết số 0321900047700 ngày 18/02/2019 cho đến khi trả hết nợ vốn cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần BV thì lãi suất mà bà Trịnh Thị Ngọc D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần BV theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần BV. Đình chỉ yêu cầu tính lãi phạt lại chậm trả của Ngân hàng thương mại cổ phần BV. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trịnh Thị Ngọc D phải chịu là 923.250đ(Chín trăm hai mươi ba ngàn, hai trăm năm mươi đồng). Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV là 432.300đ (Bốn trăm ba mươi hai ngàn, ba trăm đồng) theo biên lai thu số 008538 ngày 24/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ