- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Nguyễn Văn H khởi kiện chị Nguyễn Văn W yêu cầu giải quyết ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Văn W (W Teimsungnein).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2019/HNGĐ-ST Ngày 04/9/2019 V/v Ly hôn |
NH DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Kim Hồng.
2. Ông Nguyễn Văn Khóa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dươngtham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2018/TLST-HNGĐ ngày 10/9/2018 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57B/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019; Thông báo mở lại phiên tòa số 224/2019/TB-TA ngày 09 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991.
Địa chỉ cư trú: Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Văn W (W Teimsungnein), sinh ngày 04/4/1976; Quốc tịch: Thái Lan.
Địa chỉ cư trú: Thái Lan.
Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị W quen nhau vào khoảng năm 2015 khi cùng lao động tại Nhật Bản. Anh chị tìm hiểu được một thời gian thì cùng về Việt Nam đăng ký kết hôn tại UBND huyện B vào ngày 02/3/2016 và sang Thái Lan đăng ký kết hôn. Sau khi hoàn thiện thủ tục đăng ký kết hôn ở Thái, anh H quay về Việt Nam còn chị W sang Nhật tiếp tục làm việc. Tuy nhiên sau đó anh H không sang Nhật vì không thể hoàn thiện thủ tục đoàn tụ với chị W, chị W cũng không về Việt Nam thăm anh H. Do cả hai đều bận công việc và khoảng cách địa lý nên dần dần vợ chồng không còn liên lạc. Đến nay anh H xác định vợ chồng không còn tình cảm và không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị W.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chi phí tố tụng: Anh H tự nguyện chịu cả tiền chi phí ủy thác tư pháp, chi phí dịch thuật công chứng, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Văn W có quốc tịch Thái Lan, hiện đang sinh sống tại Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam để tống đạt các văn bản tố tụng và lấy lời khai của chị Nguyễn Văn W. Tòa án đã nhận được thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, theo đó ngày 17/5/2019 Tòa án địa phương Mito, Nhật Bản đã hoàn thành việc tống đạt trực tiếp cho chị Nguyễn Văn W nhưng chị W không đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương làm việc theo thời gian, địa điểm được thông báo và cũng không có văn bản nêu quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của anh H.
Tại phiên tòa anh H và chị W vắng mặt (anh H đề nghị giải quyết vắng mặt).
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến:
- Về thẩm quyền thụ lý và giải quyết: Từ khi thụ lý, trong quá trình chuẩn bị xét xử đến phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, thư ký Tòa án và các đương sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Văn W. Anh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hải Dương đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Văn Wantan có quốc tịch Thái Lan, hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 BLTTDS, Tòa án nH dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự: Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng và lấy lời khai cho chị Nguyễn Văn W. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã nhận được thông báo về việc thực hiện ủy thác tư pháp. Theo đó ngày 17/5/2019 Tòa án địa phương Mito đã hoàn thành việc tống đạt trực tiếp cho chị Nguyễn Văn W. Như vậy, Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh H vắng mặt nhưng đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Chị W đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định, Tòa án đã mở phiên tòa đến lần thứ hai nhưng chị W vắng mặt không có lý do. Vì vậy HĐXX xét xử vắng mặt anh H và anh W là đúng quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị W tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, ngày 02/3/2016 đã đăng ký kết hôn tại UBND huyện B nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi hoàn thiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Thái Lan, anh H quay về Việt Nam còn chị W sang Nhật tiếp tục làm việc. Tuy nhiên sau đó anh H không sang Nhật Bản vì không thể hoàn thiện thủ tục đoàn tụ với chị W, chị W cũng không về Việt Nam thăm anh H. Vợ chồng dần dần không còn liên lạc.
Xét thấy anh H và chị W mỗi người ở một quốc gia khác nhau, không có cuộc sống chung vợ chồng, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng không còn tình cảm và không có khả năng đoàn tụ nên cần chấp nhận cho anh H được ly hôn với chị Wantan là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nH và gia đình.
Về quan hệ con chung, tài sản chung: Anh H xác định không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu nên HĐXX không xét. Chị W không có văn bản thể hiện quan điểm nên nếu sau này có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí và chi phí tố tụng khác: Anh H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H tự nguyện chịu cả chi phí ủy thác tư pháp, dịch thuật công chứng, không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về quyền kháng cáo: Anh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 BLTTDS; chị W được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 2 Điều 479 BLTTDS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 474, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nH và gia đình;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn chị Nguyễn Văn W (W Teimsungnein).
2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, đối trừ với 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai thu số AA/2017/0004298 ngày 04/9/2018. Anh H đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, chị Nguyễn Văn W (W Teimsungnein) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) BÙI ĐĂNG HUY |