- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; yêu cầu hủy quyết định cá biệt; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụ…"
- Tòa quyết gì? 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 208 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2019/DS-PT Ngày: 19-7-2019 V/v:Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; yêu cầu hủy quyết định cá biệt; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông
Ông
- Thư ký phiên tòa: Bà
- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 106/TBTL-TA ngày 23 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; yêu cầu hủy quyết định cá biệt; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với bản án
sơ thẩm số 05/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân
Gia Lai;
Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Đ; địa chỉ: Thôn H1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Gia N; địa chỉ: Thôn I1, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai.
1
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Đình H; địa chỉ: Thôn H1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Bà Nguyễn Thị N1; địa chỉ: Thôn I1, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai
Địa chỉ: 16 đường T, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ: Thôn H2, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
: Nguyên đơn
Nguyễn Thị Kim Đ, bị đơn ông Nguyễn Gia N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại các đơn khởi kiện ngày 10-9-2006, ngày 29-5-2008 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Đ trình bày:
Diện tích đất 18.132m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T028857 cấp ngày 04-01-2001 đứng tên Nguyễn Thị Kim Đ có nguồn gốc như sau: Bà và ông Lê Đình H kết hôn năm 1990, đến năm 1993 vợ chồng ra ở riêng, được bố chồng là ông Lê Đình C1 cho. Bà và ông H trồng hoa màu trên đất đó, tới năm 1998 vợ chồng chuyển qua trồng cà phê. Năm 1999, chồng bà bị tai nạn, gia đình gặp khó khăn, nên bà chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Gia N với giá thỏa thuận là 24.000.000 đồng, diện tích chuyển nhượng không đo đạc, ước lượng khoảng 14.000 m2. Ông N trả trước cho bà 10.000.000 đồng, số còn lại hẹn một tháng sau, vào ngày 22-5-1999 sẽ trả, đồng thời sẽ làm giấy tờ đứng tên ông N. Nhưng đến hạn ông N không trả, bà hỏi thì ông N nói lấy tiền mua vườn ở xã I hẹn tới cuối năm sẽ trả, nhưng bà không đồng ý và đòi lại vườn, nhưng ông N muốn mượn vườn để làm tới khi nào có điều kiện sẽ mua lại, bà không đồng ý nhưng ông H nói rằng ông N là anh em kết nghĩa của ông, nên bà vẫn chấp nhận để ông N làm trên mảnh vườn và thỏa thuận ông N tự đầu tư và tự thu, sau 5 năm k từ khi thu hoạch năm 2001 (tức đ n năm 2006) sẽ trả lại, hai bên thỏa thuận việc này tại Đơn xin hợp đồng giao đất canh tác” ngày 28-5-1999 có ghi đất và cà phê trên đất. Do đó, từ năm 1999 vợ chồng bà không chăm sóc cà phê trên đất. Đến khoảng cuối năm 1999, bà đã 2 lần trả cho ông N tổng số tiền 10.000.000 đồng, nhưng khi trả các bên không viết giấy tờ gì.
Ngày 7-6-2006, khi đến UBND xã I làm giấy khai sinh cho con, bà mới nghe nói là ông N kiện bà bán đất mà không sang bìa đỏ, bà viết đơn yêu cầu ông N trả lại đất và vườn cây cà phê, vì trước đây giữa bà và ông N đã nhất trí không bán mảnh vườn đó cho ông N nữa, nên sau đó mảnh vườn này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà là Nguyễn Thị Kim Đ số T028857 ngày 04-
2
01-2001, có diện tích 18.132 m2. Diện tích đất này nằm tại Thôn H1, xã I, huyện C. Nhưng đến nay y ban nhân dân huyện C đã ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T028857 nêu trên.
Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Gia N, bà Nguyễn Thị N1 phải trả lại diện tích đất 18.132 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T028857 cấp ngày 04-01-2001 mang tên Nguyễn Thị Kim Đ cùng toàn bộ cây cà phê, cây muồng trên đất.
Ngoài ra, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông N đã xây dựng thêm một ngôi nhà tạm liền bếp, mái l p tôn tô xi măng, tường chưa trát, nền xi măng diện tích sử dụng là 19,76 m2, trồng 45 trụ tiêu và một s loại cây khác. Bà đã yêu cầu UBND xã I giải quyết và lập biên bản đình chỉ xây dựng, nhưng ông N vẫn tiếp tục xây. Nay, bà yêu cầu ông N dỡ bỏ toàn bộ tài sản nói trên và cây trồng thêm trên đất để trả lại đất và tài sản là cây cà phê, cây muồng trên đất cho bà.
Quá trình hai bên tranh chấp đất chưa giải quyết xong, nhưng ngày 6-10-2014, UBND huyện C lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 265762 cho ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 với diện tích 13.549,2 m2 là chồng lấn lên đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà.
Bà Nguyễn Thị Kim Đ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông N, bà N1.
Qu trình tham gia t tụng và tại Đơn phản tố, bị đơn ông Nguyễn Gia N trình bày:
Đầu năm 1999, ông từ Đăk Lăk qua Gia Lai. Ông K có giới thiệu cho ông biết là vợ chồng bà Đ, ông H có bán đất trồng cà phê. Ông cũng đã hỏi vợ chồng bà Đ, ông H mua đất thì họ nói đang bán đất, hẹn ông sáng hôm sau tới. Sau đó, ông được ông Ia H3 dẫn tới nhà bà Đ, ông H để mua đất. Ông hỏi giá cả thì ông H nói bán một sào là 1.000.000 đồng, nhưng vì đất của họ nhiều cỏ, nên không đo đạc mà chỉ bán vo. Bà Đ, ông H bán mảnh đất với giá 14.000.000 đồng. Ông đưa vợ ông là bà Nguyễn Thị N1 đi xem đất và sau đó trả giá là 13.000.000 đồng, nhưng bà Đ, ông H không bán. Khi ông trả lên 13.500.000 đồng thì bà Đ, ông H đồng ý bán. Vợ chồng ông đưa trước cho bà Đ, ông H 10.000.000 đồng, số còn lại hẹn sẽ trả sau. Tới hẹn, ông mang 3.500.000 đồng tới trả cho bà Đ, ông H và nhận đất. Nhưng tại thời điểm bà Đ, ông H chuyển nhượng đất thì đất chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông nhận đất và trồng cà phê trên đất, tổng cộng được 1.360 cây và trồng 47 cây muồng chắn gió xung quanh. Đ n năm 2000, ông có trồng thêm 4 cây mít, 1 cây sầu riêng, 3 cây bơ và 22 trụ tiêu. Năm 2001, cà phê mất giá, ông không đủ điều kiện để tiếp tục đầu tư, cũng không thể vay ngân hàng được vì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Đ, ông H
3
có ngỏ ý đứng tên làm bìa đỏ để vay ngân hàng giúp ông đầu tư. Vì nghĩ chỗ anh em kết nghĩa, nên ông đồng ý. Diện tích đất trên bà Đ đứng tên là do ông nhờ bà Đ đứng tên để vay vốn ngân hàng. Khi bà Đ đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông không được biêt. Trong quả trình sử dụng đất, ông có làm thêm một hệ thống ống dẫn nước tưới bằng nhựa dài 260 m. Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu ông trả đất và tài sản trên đất, ông không đồng ý vì đất này vợ chồng ông đã mua và trả tiền đầy đủ.
Ông có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông với ông H, bà Đ.
Người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình H trình bày:
Ồng nhất trí với yêu cầu của bà Đ là buộc vợ chồng ông N, bà N1 phải trả lại 18.132 m2 đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T028857 cấp ngày 04-01-2001 mang tên Nguyễn Thị Kim Đ cùng toàn bộ tài sản trên đất như bà Đ đã trình bày và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N, bà N1. Đối với những tài sản khác do ông N tạo lập thêm trên đất thì yêu cầu ông N dỡ bỏ để trả lại và tài sản trên cho ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1 trình bày:
Bà nhất trí với ý kiến của chồng bà là ông N. Bà không đồng ý trả lại đất và cây cà phê, cây
cho nguyên đơn vì này vợ ch ng bà đã mua và trả tiền đầy đủ, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thửa tranh chấp.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan y ban nhân dân huyện C, ông Lê Tấn Hiếu trình bày:
UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU265762 ngày 6-10-2014 cho ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 là cấp trên diện tích đất ông N nhận chuyển nhượng của 3 hộ gồm hộ ông Lê Đình D khoảng 9.400m2, hộ bà Phạm Thị T1 khoảng 2000 m2, hộ ông Bùi Văn H4 khoảng 3.000m2.
Diện tích đất trên không thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H.
Trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N bà N1, UBND huyện đã tổ chức xác minh, thu thập các thông tin từ những người làm chứng là những người trong gia đình ông H (cụ C1, ông D...), những người bán đất cho ông N, những chủ đất lân cận đất ông N đang sử dụng, kiểm tra các giấy tờ về việc mua bán đất giữa ông N với ông H4, bà T1 và ông D...từ đó mới xác định diện tích, ranh giới để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N, bà N1 là đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật.
4
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan y ban nhân dân xã I, huyện C, ông Ksor Hạ trình bày:
Năm 2000 UBND xã I có xác nhận thủ tục để bà Nguyễn Thị Kim Đ được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T028857 ngày 04-01-2001 với diện tích đất 18.132 m2. Do thời gian đã lâu, cán bộ trực tiếp làm thủ tục cho bà Đ đã chuyển đi nơi khác, không bàn giao lại hồ sơ nên nay UBND không có căn cứ để xác định được việc năm 2000 xác nhận thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ có sai sót gì không. nghị Tòa án căn cứ vào hồ sơ vụ án và quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại bản án
sơ thẩm số 05/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân
Lai đã quyết định:
“Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Đ về việc đòi ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 phải trả 18.132m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại Thôn H1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Buộc ông N và bà N1 phải trả cho bà Đ và ông Lê Đình H thửa đất có diện tích 13.674 m2 tại Thôn H1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai và có nghĩa vụ giao cho bà Đ và ông Lê Đình H toàn bộ 1.360 cây cà phê, 47 cây mu ng, 22 trụ tiêu bò lên cây mu ng, 3 cây mít, 3 cây bơ, 1 cây sâu riêng trồng trên đất; thửa đất 13.674 m2 có giới cận: Phía Đông giáp đất ông H5 và đất ông H6, phía Tây giáp đất ông T2, phía Nam giáp đất ông N đang sử dụng, phía Bắc giáp đất ông H6, ông T2 (có sơ đồ kèm theo bản án).
Bà Đ và ông H có quy n sử dụng thửa và có quy n sở hữu s cây trồng nêu trên.
Ông N và bà N1 được tháo dỡ hệ thống ống tưới nước bằng ống nhựa đang lắp đặt tại diện tích 13.674 m2 đất nêu trên.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H phải thanh toán cho ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 s tiền: 430.790.934 đồng.
Không ch p nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê nh H bên nhận chuy n
2 nhượng là ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 đ i với thửa
tại Thôn H1, xã I, huyện C tỉnh Gia Lai nêu trên.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 265762 do UBND huyện C cấp ngày 6-10-2014 cho ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1.”
5
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.
10/12/2018, bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H
kháng cáo
ẩm
Giấ
ận quyền sử dụng đất
ông Nguyễn Gia N và
2
bà Nguyễn Thị N1
, không
N
11/12/2018, ông Nguyễn Gia N
kháng cáo
k
bà Nguyễn Thị Kim Đ.
kháng cáo: Đầu năm 1999, qua sự giới thiệu của ông K, tôi đã hỏi vợ ch ng bà Đ, ông H đ mua đ t. Sau khi thỏa thuận, bà Đ ông H thống nhất bán đất cho tôi với giá 13.500.000 đồng, thửa đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng tôi đã đưa trước 10.000.000 đồng cho bà Đ ông H và sau đó đã trả đủ số tiền còn lại là 3.500.000đồng và nhận đất. Sau đó, tôi đã trồng cà phê trên đất, tổng cộng được 1.360 cây và trồng 47 cây muồng chắn gió xung quanh. Đ n năm 2000, tôi có trồng thêm 04 cây mít, 01 cây sầu riêng, 03 cây bơ và 22 trụ tiêu. Đ n năm 2001, tôi không đủ điều kiện đế tiếp tục đầu tư, cũng không th vay ngân hàng được vì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc này, bà Đ ông H ngỏ ý đứng tên làm bìa đỏ để vay ngân hàng giúp tôi đầu tư. Chỗ anh em kết nghĩa nên tôi đồng ý. Nhưng khi bà Đ đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi không được biết. Từ đó đến nay, bà Đ ông H không làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ ch ng tôi (Nguy n Gia N, Nguy n Thị Như) mà còn kiện yêu c u tôi trả đ t và tài sản trên đất. Chúng tôi không đồng ý v đất này vợ chồng tôi đã mua và trả tiền đầy đủ, quản lý sử dụng canh tác trồng cà phê từ năm 1999 cho đến nay.
Ông Nguyễn Gia N
Bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H vắng mặt
Viện kiể
Bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H vắng mặt
kháng cáo
kháng cáo
ông Nguyễn Gia N
Bà Nguyễn Thị Kim Đ
c G
ngày 22-5-1999. Ông N
không
Đơn xin xác thực diện tích đất canh tác ngày 25-5-1999 không
Đơn xin
6
hợp đồng giao đất canh tác ngày 28-5-1999 không
không
không luật.
kháng cáo
ông Nguyễn Gia N,
.
[1] Bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H vắng mặt
không
không
3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
kháng cáo
[2]
đương sự
03 tài liệu
“Đơn xin chuyển nhượng đất cà phê và nông nghiệp” ngày 22-5-1999 của ông H, bà Đ; ghi diện tích đất ông, bà xin phép chuyển nhượng cho ông N là (129 x 108) = 13.932 m2.
“Đơn xin xác thực diện tích đất canh tác” ngày 25-5-1999 do ông H ký tên, ghi kê khai diện tích đất mà gia đình (cụ C1) cho vợ chồng ông H b Đ l (129 x 102) = 13.158 m2; ông H nghị chính quyền xác nhận ông là chủ sử dụng đối với phần đất mà gia đình cho ông.
“Đơn xin hợp đồng giao đất canh tác” ngày 28-5-1999 do ông H ký tên ghi diện tích đất ông liên kết đầu tư với ông N là 14.000 m2, không ghi kích thước.
[3] Về diện tích đất tranh ch p,
Đ
18.132 m2 theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng T028857 của UBND huyện C cấp ngày 04-01-2001 không
số liệu nêu tại 3 tài liệu trên.
13.674 m2 là phù hợp với 03 tài liệu do ông H lập năm 1999 nêu trên
di n tích, kích thước phù hợp với k t quả xác định của UBND h
Chư Prông tại các tài liệu: Biên bản xác định diện tích và mốc giới đất tranh ch p ngày 4-9-2014 do Đoàn xác minh của huyện C lập, Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 18-9-2014 của ban nhân dân huyện C về gi quy t đơn khi u nại của ông Nguy n Gia N, các tài liệu này dựa trên mốc giới do ông N đang quản lý có xác nhận của các chủ s dụng đ t giáp ranh do chính quyền tổ
7
chức xác minh trên thực địa, phù hợp với tổng di n tích mà ông N đang sử dụng hiện nay (ông N đang sử dụng tổng cộng diện tích t theo k t qu xem xét th m định tại ch là 27.211 m2 bao gồm đất tranh chấp và đất có nguồn gốc mua của ông D khoảng 9.400 m2, mua của bà Phạm Thị T1 kho ng 2.000 m2, mua của ông Bùi Vi t H4 3.000 m2.
[4]
Đ
N khai
có thỏa thuận v việc chuy n nhượng quyền sử dụng đất, tuy nhiên bà Đ
sau khi thỏa thuận
do ông N không giao đủ tiền như cam kết nên bà và ông H không bán cho ông N,
ông N
việc
đã xong, ông đã trả đủ tiền mua của ông H, bà Đ.
[5]
ông N khai ông đã mua thửa đất tranh chấp,
hợp đồ
th hiện tại: “Đơn xin chuyển nhượng đất cà phê và nông nghiệp” ngày 22-5-1999, nhưng ông không lưu giữ bản gốc
này để chứng minh
việc
. Bà Đ là người giữ tài liệu bản gốc “Đơn xin chuyển nhượng đất cà phê và nông nghiệp” ngày 22-5-1999
v
khai
bà không giao tài liệu này cho ông N vì hai bên đã thỏa thuận không
mua bán đất.
[6] Xét tài liệu: “Đơn xin hợp đồng giao đất canh tác” ngày 28-5-1999 do ông H
có nội dung: Ông H xin cấp chính quyền xem xét cho ông đ
đ ng
đ u tư và phát tri n sản xu t, đơn không
chuyển nhượng đất cho ông N.
N lưu
.
[7] Việc ông N (người viết là bà Nguyễn Thị N1 - v ông N) ghi phía dưới tài liệu nội dung: “Nhất trí mua 1.400m- đ t c a anh Lê Đ nh H và vợ là chị Đ, hai bên thỏa thuận sang nhượng và tạo điều kiện
” là hành vi đơn phương của ông N, bà N1 thực hi n sau ng y 29-5-1999; do vậy nội dung ghi thêm này không có giá trị.
[8]
khoảng tháng 6/1999 ông N nhận đất theo “Đơn xin
đồng giao canh tác” ngày 28-5-1999, nhưng đến ngày 20-11-2000 bà Đ làm “Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” để l thủ tục
gi y chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã bàn giao cho ông N
. Sau khi được y ban nhân dân huyện C cấp Giấy ch ng nhận quyền s dụng s T 028857 ngày 04-01-2001, ngày 8-6-2001
bà Đ th ch p quy n sử dụng này để vay tại Phòng giao dịch B1 - Chi nhánh Ngân hàng N2 huyện C số ti 15.000.000đ, rồi về cho ông N vay lại 5.000.000 đồng.
8
[9] Ngày 11-6-2004, ông N (bà N1) viết “Giấy cam kết” có nội dung: ông N sẽ cho bà Đ vay tiền để trả nợ ngân hàng, b Đ thế chấp cho ông N “T
diện tích đất trồng cà phê là thuộc GCNQSD đất s 1214 tờ bản đồ
ử
1A mang tên Nguyễn Thị Kim Đ” và “đ t ở 6m có nhà xây tạm lợp tôn” n u đ n khi thu hoạch cà phê năm 2004 mà bà Đ không trả được nợ th t i sản trên thuộc toàn quyền sử dụng của vợ chồng ông N.
[10] Các hành vi trên của ông N mâu thuẫn với việc ông khai đã mua đất của bà Đ, ông H, vì ông và bà N1 vẫn chưa xác định vườn cà phê thuộc quy n s h u, s dụng c mình, nên không
bà Đ đứng tên trên giấy ch ng nh n quy n sử dụng , sau đó nghị bà Đ, ông H thế chấp
vườn cà phê để cho vay tiền.
[11]
t nh ti t trên,
xác định: Giữa bà Đ, ông H với ông N, bà N1 ban đầu có xác lập giao dịch chuyển nhượng thửa đất tranh chấp, nhưng sau đó hai bên không thực hi n và đã thỏa thuận hợp tác
tư trên theo nội dung “Đơn xin h p đồng giao đất canh tác” ngày 28-5-1999 mà ông N xuất trình cho Tòa án. Do vậy, đất vẫn thuộc quyền sử dụng của bà Đ, ông H; bà Đ khởi kiện yêu cầu ông N phải trả lại 18.132 m2 , nhưng đất mà bà Đ giao cho ông N chỉ có 13.674 m2 nên
chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của b Đ
g pháp luật.
[12] Về số tiền 10.000.000 đồng mà ông N giao cho bà Đ: Bà Đ khai đã trả lại nhưng không có chứng cứ chứng minh
không được ông N thừa nhận.
Đ biên bản hòa giải do UBND x I lập ngày 20-3-2008. Do các bên đã th a thuận về cùng đầu tư trên đất, nên s tiền này được tính như số vốn mà ông N bỏ ra để đầu tư cùng với bà Đ, ông H khi xác định quyền lợi của các bên từ việc đầu tư.
[13] Về công sức của các bên đã bỏ ra trong quá trình h p tác đầu tư: Bà Đ, ông H là người đầu tư vốn trồng mới toàn b cà phê và cây
trên đất, nhưng từ năm 1999 ông N, bà N1 có giao cho bà Đ, ông H số tiền 10.000.000 đồng tương đương với giá trị 1.000 cây cà phê dưới một năm tu i, trên thửa đất tranh chấp chỉ có 1.360 cây cà phê tr ng mới, do vậy tỷ lệ vốn đầu tư ban đầu của ông N, bà N1 là lớn hơn so với bà Đ, ông H; ông N, bà N1 còn là người trực tiếp bỏ công sức và
tư v n đ chăm sóc cây cà phê từ năm 1999
;
xác định ông N, bà N1 có nhiều công sức đóng góp hơn bà Đ, ông H trong việc
tư nên ông N, bà N1 được sở hữu ph n tài sản trên đất nhiều hơn bà Đ, ông H, cụ thể là được 75% giá trị cây cà phê và cây muồng,
.
9
[14] Do
thu c q
n sử dụng của bà Đ, ông H nên
buộc ông N, bà N1 trả lại và giao toàn bộ tài sản trên đất cho bà Đ ông H (trừ giàn ng tưới mà ông N đầu tư năm 2017, có thể tháo dỡ được m v n bảo m giá trị sử dụng nên ông N, bà N1 được tháo dỡ). Đồng thời bà Đ ông H c nghĩa vụ thanh toán lại giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của ông N bà N1 nêu trên, t ng giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của ông N bà N1 m bà Đ ông H phải thanh toán là: 430.790.934 đồng
kết quả thẩm định xem xét tại chỗ
[15]
yêu c u của bà Đ về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất BU 265762 do UBND huyện C cấp ngày 6-10-2014 cho ông N và bà N1
, d n tích đất theo g
trên nằm ngoài diện tích tranh ch p, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp c a bà Đ, ông H.
[16]
không
yêu cầu phản tố của ông N yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quy n sử dụng giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông H, bà Đ
thỏa thuận
giữa hai bên
hợp tác đ u tư trên chứ không phải thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng .
[17]
,
không
kháng cáo ông Nguyễn Gia N
. n phí dân sự
n
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ
3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H;
Không c
ông Nguyễn Gia N;
05/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân
Gia Lai.
Áp dụng các Điều: 164, 166, 208, 209 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166 Lu t Đất đai 2013;
10
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Đ về
ông Nguyễn Gia N.
2. Buộc ông Nguyễn Gia N và bà
Như phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H thửa đất có diện tích 13.674 m2 tại Thôn H1, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai và có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H toàn bộ 1.360 cây cà phê, 47 cây mu ng, 22 trụ tiêu bò lên cây mu ng, 3 cây mít, 3 cây bơ, 1 cây s u riêng trồng trên đất; thửa đất 13.674 m2 có giới cận: Phía Đông giáp đất ông H5 và đất ông H6, phía Tây giáp đất ông T2, phía Nam giáp đất ông N đang sử dụng, phía Bắc giáp đất ông H6, ông T2 (có sơ đồ kèm theo bản án).
3. Bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông
H có quy n sử dụng thửa đ t và có quy n sở hữu s cây trồng nêu trên.
4. Ông Nguyễn Gia N và bà
Như được tháo dỡ hệ thống ống tưới nước bằng ống nhựa đang lắp đặt tại diện tích 13.674 m2 đất nêu trên.
5. Buộc bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H phải thanh toán cho ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 s tiền: 430.790.934 đồng.
6. Không ch p nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Kim Đ, ông Lê nh H
bên nhận chuy n nhượng là ông Nguyễn Gia N, bà Nguyễn Thị N1 đ i với thửa 13.674 m2 tại Thôn H1, xã I, huyện C tỉnh Gia Lai nêu trên.
7. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 265762 do UBND huyện C cấp ngày 6-10-2014 cho ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1.
8. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Bà Nguyễn Thị Kim Đ, ông Lê Đình H phải chịu 7.800.000 đồng (đã nộp đủ). Ông Nguy n Gia N và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 7.800.000 đ ng, đ nộp 1.500.000 đồng, còn phải nộp tiếp 6.300.000 đồng, số tiền này ông N, bà N1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đ, ông H.
9. K từ ngày bản án, quy t định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền ph i trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
11
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
10. n phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H phải chịu 34.936.941 đồng án phí dân sự sơ th m; nhưng được trừ vào s ti n tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.812.500 đồng theo biên lai số 009289 ngày 9-6-2008 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C; bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H còn phải nộp 26.124.441 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Gia N và bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 20.774.791 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ với số tiền tạm ng án phí dân sự đã nộp l 300.000 đồng theo biên lai 0004601 ngày 05-01-2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; ông N và bà N1 còn phải nộp tiếp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 20.474.791 đồng.
11.
ự
Ông Nguyễn Gia N phải chịu 300.000đ án phí dân sự
tạ
biên lai số 0004649
8 của Cục Thi hành án dân sự
Gia Lai.
Bà Nguyễn Thị Kim Đ và ông Lê Đình H phải chịu 300.000đ án phí dân sự
tạ
biên lai số 11/12/2018 của Cục Thi hành án dân sự
Gia Lai.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND t ; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, P.HCTP, LT. 12 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Tự |