- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH! TỈNH!NAM!ĐỊNH! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2018/HSST Ngày: 13-4-2018 |
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH!TỈNH!NAM!ĐỊNH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Anh
Ông Vũ Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Ngọc D,!sinh năm 1972 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số A hai tầng số B đường T, phường T1, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đăng D (đã chết) và bà: Tưởng Thị T, sinh năm 1944; chưa có vợ con; tiền án: ngày 13-8-2014 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: ngày 17-8-2017, Công an phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị bắt, tạm giữ ngày 20-12-2017, chuyển tạm giam ngày 29-12-2017; có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N, ông Lưu Văn H (không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20-12-2017 tại trước cửa số nhà 10/60 đường T, phường T1, N, tổ công tác Công an phường Trần Tế Xương, thành phố N kiểm tra hành chính đối với Phạm Ngọc D. D đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói ni lông màu xanh bên trong là lớp giấy bạc màu vàng trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, D khai là gói Heroine. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, đồng thời tạm giữ của D chiếc xe đạp mi ni màu tím than; đưa D cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 1048/GĐKTHS ngày 22-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,188 (không phẩy một tám tám) gam.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Ngọc D khai: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 20-12-2017, D đi xe đạp từ nhà đến khu vực đường P, phường T1, thành phố N mua của một người người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng. D cầm gói ma túy trên tay phải đi về đến khu vực trước cửa số nhà 10/60 đường T, thành phố Nam Định thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 111/CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Phạm Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Ngọc D khai: Ngày 20-12-2017, bị cáo đến khu vực đường P, phường T1, thành phố N mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng cầm trên tay phải mang về để sử dụng thì bị Công an bắt giữ và thu giữ, niêm phong gói ma túy, đồng thời thu giữ của bị cáo 01 xe đạp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Ngọc D khai ngày 20-12-2017 đã mua 01 gói ma túy cất giấu trong tay mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bản kết luận giám định số 1048/GĐKTHS ngày 22-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy, loại ma túy là Heroine, có khối lượng là 0,188 (không phẩy một trăm tám mươi tám) gam. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy; chiếc xe đạp mi ni thu giữ của bị cáo, xét thấy không phải là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[6] Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 20-12-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1048/GĐKTHS; trả lại cho bị cáo 01 xe đạp mi ni đã cũ nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-3-2018 giữa Công an thành phố Nam Định và Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định).
3. Án phí: Bị cáo Phạm Ngọc D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Ngọc D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
| Nơi nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! - Bị cáo; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - TAND tỉnh Nam Định; - Công an tp. Nam Định; - Chi cục THADS tp. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VT. | THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Nguyễn!Thị!Diện! |