- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 136/2017/DSST ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 101/2018/DS-PT Ngày: 15/5/2018 V/v tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hữu Giàu
Các Thẩm phán:
Ông Cao Minh Lễ
Ông Hoàng Ngọc Linh
Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng Nhớ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh AG.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Huỳnh Thanh Phước, Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh AnGiang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2018/DSPT, ngày 23 tháng 02 năm 2018 về việc tranh chấp “Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 136/2017/DSST ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58/2018/QĐXX-DSPT ngày 26 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Quang H, sinh năm 1978;
Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1968.
Cùng cư trú: khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh AG.
Ông Lê Quang H và bà Nguyễn Thị Thanh T cùng ủy quyền cho bà Võ Thị C, sinh năm 1943. Nơi cư trú: tổ 14, khóm K, thị trấn N, huyện T, tỉnh AG (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lương T – Văn phòng Luật sư Lương T thuộc Đoàn luật sư tỉnh AG (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Bảo L, sinh năm 1984. Nơi cư trú: khóm L, phường P, thị xã TC, tỉnh AG. (vắng mặt)
Ông Trịnh Thành Đ, sinh năm 1966. Nơi cư trú: tổ 02, khóm L, phường C, thị xã TC, tỉnh AG. (vắng mặt)
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm M, sinh năm 1990. Nơi cư trú: số 418 B, khóm B, phường MT, thành phố L, tỉnh AG. (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Lê Quang H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/07/2017, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 26/7/2014 Lê Thị Hồng S điều khiển xe gắn máy biển số 67N1-083.56 chạy trên tỉnh lộ 593 hướng TC về CĐ thuộc khu vực ấp Vĩnh T, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG thì va chạm với xe tải biển số 66C-011.67 của ông Trịnh Thành Đ và tài xế ông Trần Bảo L chạy theo hướng ngược lại hậu quả làm chị S chết tại chỗ. Nay bà Võ Thị C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Trịnh Thành Đ và ông Trần Bảo L có trách nhiệm liên đới bồi thường tổn thất tinh thần là 72.600.000 đồng và cấp dưỡng cho 02 con của Lê Thị Hồng S số tiền là 181.500.000 đồng, tổng cộng là 254.100.000 đồng.
Đến ngày 24/10/2017 nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung với lý do chính sách pháp luật có thay đổi nên yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm số tiền là 130.000.000 đồng và cấp dưỡng nuôi 02 con của chị S tên Phạm Quang Tr, sinh ngày 17/8/2012 với số tiền là 113.100.000 đồng và Lê Quang G, sinh ngày 06/06/2009 với số tiền là 89.050.000 đồng. Tổng cộng là 332.150.000 đồng.
Bị đơn ông Trịnh Thành Đ và ông Trần Bảo L trình bày:
Ngày 26/7/2014, khoảng 14 giờ ông Trần Bảo L điều khiển xe tải biển số 66C-011.67 hướng từ Châu Đốc về TC trên tỉnh lộ 953, khi đó trời đang mưa. Xe mô tô của chị Lê Thị Hồng S chạy ngược chiều với xe tải ông L đang điều khiển và đối diện với xe buýt, xe của chị S chạy phía sau xe buýt và chị S điều khiển xe dự định vượt qua xe buýt nhưng chưa vượt qua thì chị S thấy xe tải của ông L chạy đối diện lại với xe Buýt nên chị S thắng xe gấp nên té ngã, xe của chị S không có va chạm với xe tải của ông L đang lái, sau khi ông L dừng xe lại để xem chị S như thế nào, lúc đó chị S bất tỉnh và tử vong tại chổ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 136/2017/DSST ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang H và bà Nguyễn Thị Thanh T về việc yêu cầu ông Trịnh Thành Đ và ông Trần Bảo L có trách nhiệm liên đới bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm và cấp dưỡng cho con của nạn nhân Lê Thị Hồng S, với số tiền là 332.150.000 đồng.
Trang 2
Công nhận sự tự nguyện của ông Trịnh Thành Đ và ông Trần Bảo L cấp dưỡng cho Phạm Quang Trọng, sinh ngày 17/8/2012 và Lê Quang Giàu, sinh ngày 06/06/2009 số tiền là 20.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi án sơ thẩm bà T và ông H có đơn kháng cáo, kháng cáo bản án số 136/2017/DSST ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG, cụ thể: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Lê Quang H kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2017/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trịnh Thành Đ và ông Trần Bảo L liên đới trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn số tiền 332.150.000 đồng.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu ý kiến cho rằng, cấp sơ thẩm đã bỏ sót người tham gia tố tụng là chủ sở hữu xe và công ty bảo hiểm xe. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng theo các quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và thủ tục phiên tòa Đ đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; tuyên xử hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hình thức: Đơn kháng cáo của Lê Quang H và bà Nguyễn Thị Thanh T trong hạn luật định nên Đ Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nội dung: Vụ án tai nạn giao thông dẫn đến bà Lê Thị Hồng S chết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã TC đã tiến hành dựng lại hiện trường, giám định xe ô tô tải biển số 66C- 01167 do ông Trần Bảo L điều khiển và xe mô tô biển số 67N1-08356 do nạn nhân Lê Thị Hồng S điều khiển, giám
Trang 3
định tử thi và xác minh thu thập chứng cứ xác định nguyên nhân dẫn đến bà S chết.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông Đ Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã TC xác định là do nạn nhân Lê Thị Hồng S muốn vượt xe khác khi chưa đảm bảo an toàn giao thông nên thắng (phanh) xe, té ngã dẫn đến tử vong. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã TC đã ban hành Quyết định số 41 ngày 28/8/2014 về việc không khởi tố vụ án hình sự.
Theo Công văn số 37/CV-VKS ngày 09/9/2014 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC thống nhất với Quyết định số 41 ngày 28/8/2014 về việc không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã TC.
Nhưng bà Võ Thị C đại diện theo ủy quyền của ông Lê Quang H, bà Nguyễn Thị Thanh T không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự nên khiếu nại.
Tại Quyết định số 02 ngày 16/11/2014 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã TC về việc giải quyết khiếu nại của bà C với nội dung: không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan CSĐT Công an thị xã TC xảy ra ngày 26/7/2014 tại ấp Vĩnh T, xã CP là có cơ sở pháp luật. Về trách nhiệm dân sự trong vụ tai nạn giao thông nếu bà Võ Thị C có đơn yêu cầu bồi thường, Công an thị xã TC sẽ chuyển hồ sơ sang Tòa án nhân dân thị xã TC xét xử theo quy định pháp luật.
Ông H, bà T khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/7/2017 đến Tòa án nhân dân thị xã TC yêu cầu bồi thường thiệt hại, cho rằng tài xế Trần Bảo L có lỗi trong vụ tai nạn giao thông nên phải cùng chủ xe là ông Trịnh Thành Đ phải bồi thường tổng số tiền 332.150.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ cho rằng xe ô tô tải biển số 66C- 01167 là do vợ chồng ông mua của em vợ tên Nguyễn Văn C nhưng chưa làm thủ tục sang tên, nên ông không phải là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe, khi xảy ra tay nạn giao thông ông không đi trên xe mà do vợ ông tên Nguyễn Thị M cùng đi với tài xế L nên ông không chứng kiến tai nạn giao thông xảy ra, do đó ông không đủ tư cách thỏa thuận giải quyết bồi thường và ông cũng không đồng ý bồi thường.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/7/2014 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã TC đối với Nguyễn Văn C (BL76), ông Chớp trình bày: Xe ô tô tải biển số 66C- 01167 là do mẹ tôi và chị M góp vốn để cùng mua xe tải, nhưng người đứng tên trong giấy xe là Nguyễn Văn C.
Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ về chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 66C- 01167 và trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi tai nạn xảy ra.
Trang 4
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ còn cho rằng xe ô tô tải biển số 66C-01167 có mua bảo hiểm bắt buộc nhưng không biết phía chủ xe (ông C) và phía bảo hiểm có làm việc với nhau hay không ông không biết.
Theo Điều 601 Bộ luật dân sự và Thông tư số 22/2016/TT-BTC ngày 16/2/2016 của Bộ Tài Chính về việc “Quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới”. Cấp sơ thẩm chưa đưa chủ sở hữu xe, người quản lý hợp pháp xe và đơn vị bảo hiểm xe ô tô tải biển số 66C- 01167 vào tham gia tố tụng để xác định trách nhiệm bồi thường là có thiếu sót.
Do những thiếu sót của cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không thể khắc phục, nên hủy bản sơ thẩm và giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự,
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 136/2017/DSST ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG.
Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã TC giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND AG; - Phòng KTNV và THA; - TAND huyện; - THA huyện; - Văn Phòng; - Tòa Dân sự; - Đương sự; - Lưu hồ sơ . Trang 5 | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Hữu Giàu |