vanban.org

Bản án 101/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị P và ông Hà Văn H là vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị P và ông Hà Văn H như sau: Bà Nguyễn Thị P nuôi cháu Hà Hữu N, sinh ngày 10/10/2002, ông Hà Văn H nuôi cháu Hà Hữu D, sinh ngày 10/10/2000. Bà P, ông H không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bà P, ông H phải tạo điều kiện cho nhau được quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị P và ông Hà Văn H là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 101/2017/HNGĐ-ST
Ngày 05/12/2017.
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình-xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thường

2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Không tham gia.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 302/2017/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2017, về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình

- Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/11/2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1981 (có mặt)

Cư trú: Ấp Vĩnh Thắng, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1980 (có mặt)

Cư trú: Ấp Vĩnh Thắng, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày: Tôi với ông Hà Văn H chung sống với nhau từ năm 1999, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu hai người chung sống hòa thuận hạnh phúc và sinh được hai con chung tên Hà Hữu D, sinh ngày 10/10/2000 và Hà Hữu N, sinh ngày 10/10/2002. Đến năm 2007 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, hai người thường xuyên cự cãi nhau, dẩn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm giữa hai người không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông Hà Văn H; về con chung tôi yêu cầu được nuôi cháu Hà Hữu N, ông H nuôi cháu Hà Hữu D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; về quan hệ tài sản chung, nợ chung không có.

Tại tờ tự khai ngày 16/11/2017 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hà Văn H trình bày: Tôi thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị P về thời gian chung sống có tổ chức lễ cưới và không có đăng ký kết hôn, thống nhất về con chung cũng như nguyên nhân dẩn đến mâu thuẩn. Nay bà P yêu cầu xin ly hôn thì tôi đồng ý; về con chung tôi thống nhất với yêu cầu của bà P mỗi người nuôi một đứa, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình xin ly hôn, bị đơn ông Hà Văn H có địa chỉ cư trú tại ấp Vĩnh Thắng, xã Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Bà Nguyễn Thị P với ông Hà Văn H chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 thì “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” có quyền đăng ký kết hôn và theo qui định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 thì “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị P và ông Hà Văn H, mặc dù hai người đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, nhưng không thực hiện theo qui định của pháp luật. Nay bà P yêu cầu ly hôn với ông H nhưng về mặt pháp luật ông bà không phải là vợ chồng nên Hội đồng xét xử không thể xem xét chấp nhận theo thủ tục ly hôn mà cần tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị P với ông Hà Văn H là vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống bà P, ông H có hai con chung tên Hà Hữu D, sinh ngày 10/10/2000 và Hà Hữu N, sinh ngày 10/10/2002. Bà P, ông H thống nhất thỏa thuận bà P nuôi cháu N, ông H nuôi cháu D, qua lấy ý kiến của hai cháu nguyện vọng của cháu N muốn sống với bà P, cháu D muốn sống với ông H. Do vậy cần công nhận sự thỏa thuận giữa bà P và ông H về việc nuôi con chung, Bà P, ông H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà P, ông H thống nhất khai không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà P yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị P và ông Hà Văn H là vợ chồng.

- Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị P và ông Hà Văn H như sau: Bà Nguyễn Thị P nuôi cháu Hà Hữu N, sinh ngày 10/10/2002, ông Hà Văn H nuôi cháu Hà Hữu D, sinh ngày 10/10/2000. Bà P, ông H không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bà P, ông H phải tạo điều kiện cho nhau được quyền đến thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo qui định pháp luật.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003499 ngày 05/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà P đã nộp xong).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ