- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYÊN THI KIEU HOA"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1009/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2019 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giàu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Huê
2. Bà Đỗ Trương Hồng Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Dương thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 636/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều H, sinh năm 1987.(vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Giồng Lớn, xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1988.(vắng mặt)
Địa chỉ:36B đường 267 Trịnh Quang Nghị, Phường 7, Quận 8, Tp.Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày: Bà H và ông T sống chung từ năm 2016, có giấy chứng nhận kết hôn số 89 do Uỷ ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/8/2016. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn,vợ chồng đã nhiều lần hòa giải đoàn tụ nhưng không thành, đã sống ly thân. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông T.
Vợ chồng có một con chung là Huỳnh Minh P, sinh ngày 10/9/2017. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông T.
Tài sản chung: không có.
Nợ chung: không có.
Bị đơn trình bày ý kiến: Ông T thống nhất như lời trình bày của bà H về mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do có nhiều vấn đề chưa hiểu về nhau nên vợ ông yêu cầu ly hôn ông không đồng ý. Ông muốn đoàn tụ cùng vợ và con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật không vi phạm Tố tụng. Yêu cầu của bà H là có căn cứ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều H, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án hôn nhân và gia đình,bị đơn cư trú tại Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 8 theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo yêu cầu của nguyên đơn.
Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
Quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T sống chung từ năm 2016, có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bà H yêu cầu ly hôn với ông T vì không còn tình cảm dành cho chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đã sống ly thân. Đối với ông T, mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng từ khi vợ chồng không sống chung vào năm 2017, ông không có động thái gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Bà H không muốn đoàn tụ, vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.
Hội đồng xét xử nhận thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Con chung: Có một con chung là Huỳnh Minh P, sinh ngày 10/9/2017. Xét thấy bà H và ông T thống nhất người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con. Sự thoả thuận của các đương sự phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tài sản chung: Đương sự tự xác nhận không có.
Nợ chung: Đương sự tự xác nhận không có.
Bà H phải chịu án phí theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2009 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều H.
1.1 Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều H được ly hôn ông Huỳnh Minh T.
1.2. Con chung: Có một con tên Huỳnh Minh P, sinh ngày 10/9/2017. Giao cho bà Nguyễn Thị Kiều H trực tiếp nuôi con là Huỳnh Minh P, sinh ngày 10/9/2017. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông T cho đến khi bà H có đơn yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.
1.3. Tài sản chung: Đương sự tự xác nhận không có.
1.4. Nợ chung: Đương sự tự xác nhận không có.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm bà H phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014866 ngày 15/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà H đã thi hành xong án phí.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM - VKSND Q.8 - Chi cục THADS Q.8 - UBND phường 7, Quận 8 - Các đương sự - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Giàu |