vanban.org

Bản án 1007/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/09/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị Hoài T như sau: 1.

TAND Tối cao; TAND Cấp cao tại TP.HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị Hoài T như sau: 1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1007/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2021
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Thông.

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3273/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7596/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hoài T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Viêt Nam

- Bị đơn: Ông Nguyen Huy Q, sinh năm 1977.

Địa chỉ: NW, OC, OK, USA

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyen Huy Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố X theo Giấy chứng nhận kết hôn vào sổ đăng ký kết hôn số 232, quyển số 02, ngày 22/01/2016. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng 02 tuần sau khi kết hôn thì ông Nguyen Huy Q quay trở lại Hoa Kỳ, bà và ông Nguyen Huy Q vẫn liên lạc với nhau qua điện thoại hàng ngày. Tuy nhiên sau 02 năm thì giữa bà và ông Nguyen Huy Q phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung. Ông Nguyen Huy Q cũng không về Việt Nam để thăm bà. Nay bà nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyen Huy Q.

Về con chung: Bà và ông Nguyen Huy Q không có con chung.

Về tài sản chung: Bà và ông Nguyen Huy Q không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà và ông Nguyen Huy Q không có nợ chung. Đối với bị đơn ông Nguyen Huy Q hiện đang cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cung cấp lời khai của ông Nguyen Huy Q về việc bà Phan Thị Hoài T yêu cầu ly hôn với ông Nguyen Huy Q, nhưng ông Nguyen Huy Q không cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phan Thị Hoài T có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt thông báo về ngày mở phiên tòa đối với ông Nguyen Huy Q nhưng ông Nguyen Huy Q vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Bà Phan Thị Hoài T và ông Nguyen Huy Q từ lâu đã không còn chung sống, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Phan Thị Hoài T và ông Nguyen Huy Q hiện nay không tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Hoài T. Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung bà Phan Thị Hoài T khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 24/02/2020, bà Phan Thị Hoài T đang cư trú tại Việt Nam có đơn xin ly hôn với ông Nguyen Huy Q hiện đang cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Phan Thị Hoài T có đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà Phan Thị Hoài T. Ngày 20/5/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 371/UTTPDS-TA30 về việc tương trợ tư pháp gửi Bộ Tư pháp để ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thực hiện việc tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với ông Nguyen Huy Q đang cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Ngày 11/5/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 356/TATP-TGĐVNCTN về việc tống đạt, niêm yết công khai, thông báo văn bản tố tụng đối với đương sự ở nước ngoài gửi Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ để tống đạt, niêm yết Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử sơ thẩm tại trụ sở Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trong thời hạn 01 (Một) tháng đối với ông Nguyen Huy Q.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, và Điểm b Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Phan Thị Hoài T và ông Nguyen Huy Q có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thu thập được từ Bản tự khai của bà Phan Thị Hoài T, có cơ sở để xác định rằng mục đích của hôn nhân giữa bà Phan Thị Hoài T và ông Nguyen Huy Q đã không đạt được. Về phía ông Nguyen Huy Q, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài hợp lệ, nhưng ông Nguyen Huy Q không có văn bản trả lời hay đơn đề nghị xét xử vắng mặt, điều này chứng tỏ ông Nguyen Huy Q không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Do đó, việc bà Phan Thị Hoài T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết cho bà Phan Thị Hoài T được ly hôn đối với ông Nguyen Huy Q là có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Bà Phan Thị Hoài T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Phan Thị Hoài T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Phan Thị Hoài T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Hoài T là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Phan Thị Hoài T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273, Điểm b Khoản 5 Điều 477, và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị Hoài T như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Hoài T được ly hôn với ông Nguyen Huy Q. Quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị Hoài T và ông Nguyen Huy Q chấm dứt, Giấy chứng nhận kết hôn số 2013, quyển số 11, ngày 24/6/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố X cấp không còn giá trị kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Bà Phan Thị Hoài T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 3. Về tài sản chung: Bà Phan Thị Hoài T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 4. Về nợ chung: Bà Phan Thị Hoài T khai không có, nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét, giải quyết. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Hoài T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Phan Thị Hoài T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0045835 ngày 11/03/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Thị Hoài T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 6. Về quyền kháng cáo bản án: Bà Phan Thị Hoài T vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Phan Thị Hoài T là 15 ngày, kể từ ngày bà Phan Thị Hoài T được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Nguyen Huy Q không có mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ