- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn V.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1005/2020/HS-PT Ngày 29/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành, ông Mai Văn Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kiều Diễm, Kiểm sát viên.
Ngày 29/12/2020, tại Tòa án thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 948 ngày 25/11/2020; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn V; Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 60 ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn V, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1955 và con bà Nguyễn T, sinh năm 1969; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/9/2013 bị Công an huyện M khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 14/11/2013, Viện kiểm sát nhân dân huyện M đình chỉ vụ án do Nguyễn V là trẻ vị thành niên, phạm tội lần đầu; Bị tạm giữ từ ngày 04/6/2020 đến ngày 13/6/2020 (Có mặt).
Bị cáo và người tham gia tố tụng không kháng cáo, không bị kháng nghị:
- Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo Bạch Công Ph, sinh ngày 14/8/2002; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người bào chữa cho bị cáo Bạch Công Ph Ông Nguyễn N, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội.
- ị h i: Trường Mầm non H, huyện M, thành phố Hà Nội;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/6/2020, các bị cáo Nguyễn V, Bạch Công Ph lén lút vào Trường mầm non H trộm cắp 01 ti vi LG 43 inch. Sau đó bị cáo D và bị cáo Ph tiếp tục rủ bị cáo Nguyễn Văn T đến trộm cắp 01 điều hòa CASPER 18.000 BTU mang về nhà bị cáo D mục đích để sử dụng.
Đến ngày 04/6/2020 các bị cáo Nguyễn V, Bạch Công Ph đến Công an huyện M đầu thú khai nhận hành vi phạm tội; Bị cáo Nguyễn V giao nộp 02 tài sản trộm cắp nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 24/KL-HĐĐG ngày 08/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận:
“- 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Casper, công suất 18.000 TU, model: SC-18TL32 xuất xứ Thái Lan, đã qua sử dụng, mua ngày 23/5/2020, trị giá tài sản còn 10.426.000 đồng;
- Ti vi LG màu đen, model: 43LV640S T 43 inch màu đen, model 2018, xuất xứ INDONESIA, giá trị còn l i t i thời điểm là 6.780.000 đồng. Tổng giá trị hai tài sản là 17.206.000 đồng”.
Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKS-MĐ ngày 24/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội truy tố các bi cáo Nguyễn V, Nguyễn Văn T và Bạch Công Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 60 ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V, Bạch Công Ph, Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn V 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 04/6/2020 đến 13/6/2020.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65, các điều 90, 91 và 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Bạch Công Ph 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 06/10/2020 bị cáo Nguyễn V kháng cáo xin hưởng án treo.
T i phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
+ Về nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 60 ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội;
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn V 12 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo không tham gia tranh luận, chỉ xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Đêm ngày 02 và rạng sáng ngày 03/6/2020, lợi dụng sơ hở của bảo vệ Trường mầm non xã H, huyện M; Các bị cáo Nguyễn V, Bạch Công Ph đã trộm cắp 01 Ti vi LG, 43 inch trị giá 6.780.000đ. Ngay sau đó các bị cáo Nguyễn V và Bạch Công Ph tiếp tục rủ bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Casper, công suất 18.000 BTU trị giá 10.426.000đ, mục đích để sử dụng.
Các bị cáo Nguyễn V, Bạch Công Ph phải chịu trách nhiệm hình sự trị giá tài sản chiếm đoạt là 17.206.000đ; Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu Trách nhiệm hình sự với trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.780.000đ.
Với hành vi trên cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy, khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, vai trò, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn V như: Sau khi phạm tội đến đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Khi đến đầu thú bị cáo đã mang toàn bộ tài sản trộm cắp giao nộp cho cơ quan điều tra, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này cho bị cáo là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.
Với những tình tiết nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giữ nguyên hình phạt như cấp sơ thẩm, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn V.
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 60 ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
Nguyễn V 12 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS Tp Hà Nội; - TAND và VKS H. M, HN; - Chi cục THA DS H. M, HN; - UBND xã H, M, HN; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Phong |