- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Thị N"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Thành T, Bà
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1003/2017/DS-PT Ngày: 09/11/2017 V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Liên
Các Thẩm phán:
Ông Dương Tuấn Vinh
Bà Trần Thị Quỳnh Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Quyện – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 427/2017/TLPT- DS
ngày 25 tháng 9 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 1719/2017/DS-ST ngày 17/8/2017 của Tòa
án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2331/2017/QĐ – PT
ngày 19/10/2017 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953
Địa chỉ: 294/48 X, phường HM, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có
mặt).
- Bị đơn:
1/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970
2/ Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1970
Cùng địa chỉ: 32/2 BĐ, phường HB2, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tấn Trí N1, sinh năm 1969
Địa chỉ: 251/45 L, phường B3, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy
quyền lập ngày 20/3/2017 và 20/4/2017) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2017 và đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện
ngày 16/6/2017 của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị H trong quá trình giải quyết vụ
án cũng như tại phiên tòa như sau:
Vợ chồng Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N có vay mượn bà H các
lần tiền như sau:
Ngày 01 tháng 4 năm 2015 Ông Nguyễn Thành T mượn bà số tiền
150.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng (giấy mượn tiền ngày 01/4/2015), tiền lãi, tiền lãi tạm tính từ ngày 02/5/2015 đến 17/8/2017 là 27 tháng 15 ngày: (27 tháng x 150.000.000 đồng x 0.75%) + (15 ngày/30 ngày x 150.000.000 đồng x 0,75%) = 30.937.500 đồng.
Ngày 15 tháng 6 năm 2015 Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N vay
số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 3 %/tháng, thời gian trả tiền 01 năm kể từ ngày ký (giấy vay tiền ngày 15/6/2015), tiền lãi tạm tính từ ngày 16/7/2015 đến 17/8/2017 là 25 tháng 01 ngày: (25 tháng x 500.000.000 đồng x 0,75%) + (01 ngày/30 ngày x 500.000.000 đồng x 0,75%) = 93.875.000 đồng.
Ngày 01 tháng 9 năm 2015 Bà Nguyễn Thị N mượn bà số tiền 400.000.000
đồng, lãi suất 4%/tháng thời gian trả tiền 01 năm kể từ ngày ký (giấy mượn tiền ngày 01/9/2015), tiền lãi tạm tính từ ngày 02/10/2015 đến ngày 17/8/2017 là 22 tháng 15 ngày: (22 tháng x 400.000.000 đồng x 0,75%) + (15 ngày/30 ngày x 400.000.000 đồng x 0,75%) = 67.500.000 đồng.
Ngày 01 tháng 10 năm 2015 Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N vay
bà số tiền 2.300.000.000 đồng, với thỏa thuận 1.000.000.000 đồng không tính lãi, chỉ tính lãi 1.300.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng, thời gian trả tiền 01 năm kể từ ngày ký (giấy mượn tiền ngày 01/10/2015), tiền lãi tính từ ngày 02/11/2015 đến 17/8/2017 là 21 tháng 15 ngày: (21 tháng x 1.300.000.000đồng x 0,75%) + (15 ngày/30 ngày x 1.300.000.000 đồng x 0,75%) = 209.625.000 đồng.
Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà N phải trả
cho bà số tiền như sau: tiền gốc 3.350.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính là: 401.937.500 đồng. Tổng cộng là: 3.751.937.500 đồng.
Về thời hạn thanh toán: Số tiền này trả làm một lần ngay sau khi bản án
quyết định có hiệu lực pháp luật và số tiền lãi tính theo lãi suất ngân hàng nhà nước quy định 9%/năm (0,75%/tháng) cho đến khi thanh toán xong tiền nợ gốc.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Ông Trần Tấn Trí N1 trình bày:
Ngày 24/02/2017 ông T, bà N có ký giấy mượn tiền với nội dung có
mượn Bà Nguyễn Thị H số tiền 3.350.000.000 đồng. Tuy nhiên ông T, bà N cho rằng số tiền mà ông bà mượn của bà H thực tế chỉ là 2.350.000.000 đồng, riêng số tiền 1.000.000.000 đồng còn lại là liên quan đến các dây hụi của bà N, bà H vẫn đang tiến hành tham gia vào các phần hụi nêu trên cho đến tháng 3/2017. Do đó, việc bà H cộng khoản tiền 1.000.000.000 đồng là tiền hụi đang hoạt động để khởi kiện là không đúng,vì các khoản hụi này chưa chấm dứt và vẫn đang hoạt động. Đồng thời, theo nội dung giấy mượn tiền ngày 24/02/2017 thì việc mượn tiền không có thời hạn trả nợ, nên không thể cho rằng ông T, bà N đã vi phạm thời hạn vay để bà H khởi kiện.
Vì vậy, ông Nhân đề nghị xem xét đối với số tiền 2.350.000.000 đồng mà
ông T, bà N đã xác nhận có vay của bà H, không chấp nhận yêu cầu của bà H đòi bà N ông T trả 3.350.000.000 đồng, đối với số tiền lãi theo các khoản nợ vay mà bà H yêu cầu khởi kiện bổ sung 359.625.000 đồng, đề nghị Tòa án nhân dân Quận B chỉ tính lãi 9%/năm (0,75%/tháng) đối với số tiền 2.350.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà H xác định khởi kiện ông T, bà N theo các giấy vay
mượn tiền ngày 01 tháng 4 năm 2015; ngày 15 tháng 6 năm 2015; ngày 01 tháng
9 năm 2015; ngày 01 tháng 10 năm 2015, đối với giấy mượn tiền ngày
24/02/2017 chỉ là ông T, bà N tái ký xác nhận có mượn bà số tiền 3.350.000.000
đồng.
Bà H tiếp tục yêu cầu Tòa án duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
số 24/2017/QĐ – BPKCTT ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân Quận B về
việc “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ, tài sản là nhà đất số 32/2 B,
phường HB2, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN: CH01284
ngày 18/7/2013 của Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho
Bà Nguyễn Thị N” để đảm bảo thi hành án.
Bản án sơ thẩm đã tuyên:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị H:
Buộc bị đơn Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho
Bà Nguyễn Thị H số tiền 3.751.937.500 đồng (trong đó tiền nợ gốc:
3.350.000.000 đồng, tiền lãi 401.937.500 đồng).
Tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 24/2017/QĐ –
BPKCTT ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân Quận B về việc “Phong tỏa tài
sản của người có nghĩa vụ, tài sản là nhà đất số 32/2 B, phường HB2, Quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN: CH01284 ngày 18/7/2013 của Ủy
ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Bà Nguyễn Thị N” để
đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tiền lãi chậm thi hành án, án phí và
quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 31/8/2017 bị đơn Ông Nguyễn Thành T và Bà Nguyễn Thị N nộp
đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện cho bị đơn kháng cáo đối với phần nợ
gốc 1.000.000.000 đồng không tính lãi trong giấy nợ tổng 2.300.000.000 đồng
để chỉ chấp nhận nợ gốc là 2.350.000.000 đồng và tiền lãi như sơ thẩm đã tính,
vì thực chất số tiền 1.000.000.000 đồng là nợ hụi chưa đến hạn tại thời điểm
nguyên đơn khởi kiện đòi nợ thì 1.000.000.000 đồng tiền hụi này chưa đến hạn
trả.
Ñaui"dieän"Vieän"Kieåm"íaùt"nâaân"daân"Tâaønâ"pâog"Hoà"Câí"Minâ"nâaän"òeùt"
Câuû"toau"vaø"Hoäi"ñoàng"òeùt"òö û,"ñö ông"íö u"ñaõ"tâö uc"âieän"ñuùng"caùc"qui"ñònâ"cuûa"Boä"
luaät"Tog"tuung"daân"íö u."
Veà"noäi"dung:"Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của bị đơn Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Ông Nguyễn Thành T và Bà Nguyễn Thị
N, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét kháng cáo của bị đơn cho rằng số tiền 1.000.000.000 đồng trong giấy
nhận nợ tổng 2.300.000.000 đồng lập ngày 01/10/2015 thì khoản 1.000.000.000 đồng ghi không tính lãi là nợ hụi chưa đến hạn trả mà nguyên đơn lại đòi nên bị đơn không đồng ý trả khoản này, riêng khoản nợ gốc còn lại là 2.350.000.000 đồng và nợ lãi mà cấp sơ thẩm đã tính tổng 401.937.500 đồng là đúng nên bị đơn chấp nhận trả và không kháng cáo phần này, nên Hội đồng xét xử giữ nguyên phần nội dung này, riêng kháng cáo phần nợ gốc 1.000.000.000 đồng như bị đơn trình bày, thì xét tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay cũng như sơ thẩm trước đây bị đơn vẫn không có chứng cứ chứng minh đó là khoản nợ hụi, vì sổ hụi mà bị đơn nêu có nội dung không phù hợp và không được phía nguyên đơn thừa nhận trong khi bị đơn đã ký giấy xác nhận nợ ngày 24/02/2017 tổng 3.350.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị đơn như lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm ông T, bà N phải chịu theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;"
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 148, Khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Áp dụng Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Thành T, Bà
Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm và Quyết định sửa chữa bổ sung số 270/QĐ – SCBSBA ngày 30/10/2017.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị H:
Buộc bị đơn Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả
cho Bà Nguyễn Thị H số tiền 3.751.937.500 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 3.350.000.000 đồng, tiền lãi 401.937.500 đồng).
Về thời hạn thanh toán: Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N có
nghĩa vụ thanh toán dứt điểm số tiền cho Bà Nguyễn Thị H làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 24/2017/QĐ –
BPKCTT ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân Quận B về việc “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ, tài sản là nhà đất số 32/2 B, phường HB2, Quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN: CH01284 ngày 18/7/2013 của Ủy
ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Bà Nguyễn Thị N” để
đảm bảo thi hành án.
Kể từ khi bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Ông Nguyễn Thành T, Bà
Nguyễn Thị N chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng ông T, bà N còn phải trả
lãi cho bà H theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự
năm 2015.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành T, Bà Nguyễn Thị N phải
chịu 107.038.750 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu không trăm ba mươi tám nghìn
bảy trăm năm mươi đồng).
Hoàn lại cho Bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí 49.500.000 đồng
(Bốn mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số
AA/2014/0009867 ngày 03 tháng 3 năm 2017 và số tiền 7.192.500 đồng (Bảy
triệu một trăm chín mươi hai ngàn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng
số AA/2017/0002382 ngày 04/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành T và Bà Nguyễn Thị N mỗi
người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được cấn trừ vào số tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai thu tiền số AA/2017/0002924 ngày
18/9/2017 và AA/2017/0002923 ngày 18/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự
Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, ông T, bà N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND Cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - VKSND Cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận B; - Chi cục THADS Quận B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. (20) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Liên |