- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bán án Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/HNGĐ-ST Ngày 28/6/2024 V/v: Tranh chấp về ly hôn và giao nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Khởi.
2. Ông Lê Văn Thanh.
Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1987. Trú tại: K, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1991.
Trú tại: K, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2024 và qua lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trần Văn Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thanh N đăng ký kết hôn ngày 22/11/2013 tại UBND xã N, TP ., tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay anh Q nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên viết đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh N.
Về con chung: Giữa anh và chị N có 03 con chung là Trần Tú Q1, sinh ngày 22/5/2014; Trần Tú V, sinh ngày 29/03/2018; Trần Tú A, sinh ngày 08/12/2019. Quá trình làm đơn và giải quyết vụ án, anh Q có nguyện vọng giao ba con chung cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo bản tự khai ngày 19/4//2024, quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N thừa nhận, giữa chị và anh Trần Văn Q đăng ký kết hôn với nhau ngày 22/11/2013 tại UBND xã N, TP ., tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh chị không còn tình cảm với nhau nữa nên chị N đồng ý với yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn Q.
Về con chung: Chị N và anh Q có 03 con chung là Trần Tú Q1, sinh ngày 22/5/2014; Trần Tú V, sinh ngày 29/03/2018; Trần Tú A, sinh ngày 08/12/2019. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi ba con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Q: Anh Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh N có đăng ký kết hôn ngày 22/11/2013 tại UBND xã N, TP ., tỉnh Ninh Bình, đăng ký kết hôn giữa hai bên là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa anh Q và chị N phát sinh mâu thuẫn cụ thể như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì không thông qua hoà giải tại cơ sở. Hiện tại, anh Q và chị N đã sống ly thân. Giữa anh Q và chị N có 03 con chung là Trần Tú Q1, sinh ngày 22/5/2014; Trần Tú V, sinh ngày 29/03/2018; Trần Tú A, sinh ngày 08/12/2019. Hiện nay, con chung của anh chị đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét điều kiện kinh tế, hoàn cảnh sống của hai bên, cùng nguyện vọng của con chung và ý kiến thỏa thuận của hai vợ chồng để giao nuôi con, tạo điều kiện, môi trường phát triển tốt nhất cho con chung sau này.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp tại phiên tòa:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Trần Văn Q và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó cần xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28; 35; 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cần chấp nhận cho anh Trần Văn Q được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh N.
Về con chung: Giao con chung là Trần Tú Q1, sinh ngày 22/5/2014; Trần Tú V, sinh ngày 29/03/2018; Trần Tú A, sinh ngày 08/12/2019 cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 6/2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Văn Q. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Anh Q, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc anh Trần Văn Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp: Anh Trần Văn Q có đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Thanh N và yêu cầu giải quyết việc giao nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung của vợ chồng, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối D, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Tại phiên toà nguyên đơn anh Trần Văn Q và bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh N đăng ký kết hôn ngày 22/11/2013 tại Ủy ban nhân dân xã U, TP ., tỉnh Ninh Bình. Hôn nhân giữa anh Q và chị N là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, các bên không tìm được giải pháp khắc phục mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng báo anh Q và chị N đến để hòa giải tạo điều kiện cho các bên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ, nhưng anh Q và chị N không đồng ý đoàn tụ. Anh Q xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục quan hệ hôn nhân với chị N nên vẫn giữ nguyên nguyện vọng xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh N. Chị Nguyễn Thị Thanh N có ý kiến đồng ý ly hôn với anh Trần Văn Q. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hòa giải để quay trở lại chung sống, đoàn tụ với nhau. Do đó, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Trần Văn Q được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh N.
Về con chung: Qua xác minh tại địa phương, xem xét hoàn cảnh, môi trường sống và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con và ý kiến của anh Q, chị N xét thấy cần giao con chung là Trần Tú Q1, sinh ngày 22/5/2014; Trần Tú V, sinh ngày 29/03/2018; Trần Tú A, sinh ngày 08/12/2019 cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng, từ tháng 6 năm 2024 trở đi, cho đến lúc các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Văn Q. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh N có ý kiến không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Trần Văn Q chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 51, 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Các Điều 28, 35; 39; 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Văn Q được ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh N.
2. Về con chung: Buộc anh Trần Văn Q giao các con chung là Trần Tú Q1, sinh ngày 22/5/2014; Trần Tú V, sinh ngày 29/03/2018; Trần Tú A, sinh ngày 08/12/2019 cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 6 năm 2024 trở đi, cho đến lúc các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Văn Q.
Anh Trần Văn Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. 3. Về án phí: Anh Trần Văn Q chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) Anh Trần Văn Q đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006132 ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã xã Ninh Phúc, TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Quán Vi Tuấn |