vanban.org

Bản án 100/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Bạc Thị L đối với anh Lò Văn Tr.

Xử cho chị Bạc Thị L được ly hôn anh Lò Văn Tr. Về con chung: Giao cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021 cho chị Bạc Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Bạc Thị L và anh Lò Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Bạc Thị L đối với anh Lò Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2026/HNGĐ- ST
Ngày: 28-5-2026
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Châu Phúc, bà Lường Thị Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tòng Văn Cách- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Vử Bả Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2026/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bạc Thị L, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Tiểu khu C, xã T, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lò Văn Tr, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Bạc Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 18/5/2022 tại Ủy ban nhân dân xã TC(trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2023 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài. Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị Bạc Thị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn Tr.

Về con chung: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr có 01 (một) con chung là cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021.

Cháu Sang đang ở với chị Linh. Chị Linh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Bạc Công S.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bạc Thị L không yêu cầu anh Lò Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Bạc Thị L cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Lò Văn Tr trình bày:

Về hôn nhân: Anh Lò Văn Tr và chị Bạc Thị L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 18/5/2022 tại Ủy ban nhân dân xã TC(trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận được một thời gian thì chị Linh tự ý bỏ đi dẫn đến tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, anh Lò Văn Tr xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh nhất trí ly hôn với chị Bạc Thị L.

Về con chung: Anh Lò Văn Tr và chị Bạc Thị L có 01 (một) con chung là cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021.

Anh Lò Văn Tr nhất trí để chị Linh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Bạc Công S.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn Tr không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Lò Văn Tr cam đoan không có nợ chung.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Tại biên bản xác minh ngày 08/5/2026: Tại bản Chiềng Ly, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Anh Lò Văn Tr và chị Bạc Thị L có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã TC(trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Hiện tại chị Linh và anh Trọng đã sống ly thân. Anh Lò Văn Tr và chị Bạc Thị L có 01 (một) con chung là cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021, cháu Sang đang ở với chị Linh. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Chị Bạc Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Linh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Lò Văn Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Trọng giữ nguyên yêu cầu ý kiến trong bản tự khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 5; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bạc Thị L được ly hôn anh Lò Văn Tr.

Về con chung: Giao cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021 cho chị Bạc Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về c p d ng nuôi con chung: Anh Lò Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Linh không yêu cầu anh Trọng phải cấp dưỡng nuôi con).

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Bạc Thị L, anh Lò Văn Tr cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn chị Bạc Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Bạc Thị L yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văn Tr có địa chỉ tại bản Thống Nhất, xã Mường Sại, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Bạc Thị L, bị đơn anh Lò Văn Tr đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 18/5/2022 tại Ủy ban nhân dân xã TC(trước là xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu), tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận được một thời gian có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Linh cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văn Tr, anh Lò Văn Tr nhất trí ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Linh và anh Trọng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Bạc Thị L được ly hôn anh Lò Văn Tr. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr có 01 (một) con chung là cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr đều có ý kiến đề nghị giao cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021 cho chị Bạc Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn Tr đều có nơi cư trú rõ ràng. Chị Bạc Thị L trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập ổn định. Chị Bạc Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Bạc Công S từ ngày vợ chồng sống ly thân năm 2023 cho đến nay.

Trên cơ sở xem xét ý kiến của chị Linh và anh Trọng. Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021 cho chị Bạc Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Linh không yêu cầu anh Trọng phải cấp dưỡng nuôi con).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Bạc Thị L, anh Lò Văn Tr cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Chị Bạc Thị L là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, chị Bạc Thị L vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn chị Bạc Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Căn cứ a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Bạc Thị L đối với anh Lò Văn Tr.

Xử cho chị Bạc Thị L được ly hôn anh Lò Văn Tr.

2. Về con chung: Giao cháu Bạc Công S, sinh ngày 18/01/2021 cho chị Bạc Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Linh không yêu cầu anh Trọng phải cấp dưỡng nuôi con).

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị Bạc Thị L, anh Lò Văn Tr cam đoan không có nợ chung.

7. Về án phí: Chị Bạc Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000374, ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Bạc Thị L, anh Lò Văn Tr được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ