- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Gia B - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Gia B phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2025/HS-ST Ngày: 14 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đông Thiên
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuý
Ông Nguyễn Ron
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2025/TLST-HS ngày 19.3.2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HS ngày 02.4.2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phan Gia B, giới tính: Nam, sinh năm 2004; tại Quy N, Bình Đ; Nơi đăng ký HKTT: tổ 14, khu phố 2, phường Q, TP. Q, T. B; nơi cư trú: 75 Nguyễn L, phường N, TP. Q, T. B; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông: Phan Châu T; con bà: Đinh Thị L; chị ruột: 01 người; vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Ngọc S, sinh năm 2004
Địa chỉ: tổ 7, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
2. Anh Phan Ngọc S, sinh năm 2004
Địa chỉ: tổ 1, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
3. Anh Trương Lê Thanh Đ, sinh năm 2006
Địa chỉ: tổ 9, khu vực 8, phường N, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Trương Thanh L và bà Lê Thị Tuấn H là cha, mẹ Trương Lê Thành Đ
Địa chỉ: tổ 9, khu vực 8, phường N, Tp Q, T. B (vắng mặt)
4. Anh Đinh Văn Đ, sinh năm 2006
Địa chỉ: tổ 11, khu vực 2, phường G, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Đinh Văn T và bà Nguyễn Thị Hồng T là cha, mẹ Đinh Văn Đ
Địa chỉ: tổ 11, khu vực 2, phường G, Tp Q, T. B (vắng mặt)
5. Anh Huỳnh Nguyễn Thanh D, sinh năm 2006
Địa chỉ: tổ 22, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Huỳnh Thanh T và bà Nguyễn Thị Thanh P là cha, mẹ Huỳnh Nguyễn Thanh D
Địa chỉ: tổ 22, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
6. Anh Sử Diệp Thanh P, sinh năm 2006
Địa chỉ: tổ 39, khu vực 6, phường L (nay phường T), Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Sử Đoàn Hiền P và bà Diệp Thị T là cha, mẹ Sử Diệp Thanh P
Địa chỉ: tổ 39, khu vực 6, phường L (nay phường T), Tp Q, T. B (vắng mặt)
7. Anh Đinh Hoàng V, sinh năm 2005
Địa chỉ: 31/4 Nguyễn D, phường L (nay phường T), Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Đinh Tiên P và bà Đỗ Thị H là cha, mẹ Đinh Hoàng V
Địa chỉ: 31/4 Nguyễn D, phường L (nay phường T), Tp Q, T. B (vắng mặt)
8. Anh Nguyễn Tấn H, sinh năm 2006
Địa chỉ: tổ 65, khu vực 8, phường Q, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị Tố N là cha, mẹ Nguyễn Tấn H
Địa chỉ: tổ 65, khu vực 8, phường Q, Tp Q, T. B (vắng mặt)
9. Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2005
Địa chỉ: 27/1 Lê Lợi, phường L (nay phường T), Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Ngọc H và bà Phạm Thị S là cha, mẹ Nguyễn Ngọc T
Địa chỉ: 27/1 Lê L, phường L (nay phường T), Tp Q, T. B (vắng mặt)
10. Anh Lê Đức Thành L, sinh năm 2007
Địa chỉ: tổ 7, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Đức B và bà Nguyễn Thị Bích D là cha, mẹ Lê Đức Thành L
Địa chỉ: tổ 7, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
11. Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 2007
Địa chỉ: tổ 6, khu vực 6, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn B và bà Nguyễn Thị Thu H là cha, mẹ Nguyễn Huy H
Địa chỉ: tổ 6, khu vực 6, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
12. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2007
Địa chỉ: : tổ 17B, khu vực 3, phường G, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị H là cha, mẹ Nguyễn Văn K
Địa chỉ: : tổ 17B, khu vực 3, phường G, Tp Q, T. B (vắng mặt)
13. Anh Phạm Văn B, sinh năm 1979
Địa chỉ: tổ 7, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
14. Anh Lê Đức B, sinh năm 1986
Địa chỉ: tổ 7, khu vực 4, phường T, Tp Q, T. B (vắng mặt)
Người làm chứng:
Chị Lê Thị Bích S, sinh năm 1984
Địa chỉ: 89 Mai Chí T, khu vực 5, phường T, TP Q, T. B (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 14/01/2023, Phan Ngọc S và Phạm Ngọc S đang nhậu trong quán “Tí H” (Địa chỉ: 89 Mai Chí T, phường T, thành phố Q) thì thấy Lê Đức Thành L điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Huy H chạy ngang qua nhìn vào trong và nẹt pô. S cho rằng L nhìn đểu mình nên lấy dép ném về phía L và H nhưng không trúng. Sau đó, S nhắn tin dọa đánh L nên hai bên xảy ra mâu thuẫn.
Để giải quyết mâu thuẫn này, khoảng 20h30’ ngày 15/01/2023, L và H đến quán cà phê “Phạm G” (Địa chỉ: Số 10 đường Mai Hắc Đ, phường G, thành phố Q) nhờ Trương Lê Thanh Đ, Đinh Văn Đ, Nguyễn Văn K, Huỳnh Nguyễn Thanh D và Sử Diệp Thanh P nhờ nhóm này đi đánh nhau, giải quyết mâu thuẫn thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, Đại gọi điện cho Đinh Hoàng V, nhờ giúp đánh nhau thì V đồng ý. V đi cùng Nguyễn Tấn H, Nguyễn Ngọc T và Phan Gia B đi trên hai xe mô tô cùng đi đến đường Vũ B, đoạn trước quán “Mỳ C” gặp Đ, Đ, D, P, K, L và Huy H. Sau khi tập hợp xong, nhóm L đến quán Tí H gọi S và S ra thì S hẹn đến khu vực Trạm y tế số 4, phường T để giải quyết mâu thuẫn rồi cả nhóm 11 người đi trên 06 xe mô tô đến khu vực trên đợi nhưng S và S không đến. Khoảng 22h15’, nhóm L cùng nhóm của mình đến trước quán nhậu “Tí H” để gọi S, S ra. Lúc này, S lấy một con dao (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 50cm) chạy ra chém vào hông của L và đùi của Huy H nhưng không gây thương tích gì đáng kể. Thấy vậy, nhóm của L bỏ chạy thì S đuổi theo, ném con dao trúng vào biển số xe của B. Sau đó, hai bên ném đá và vỏ chai bia qua lại một lúc thì nhóm của L bỏ đi. B nói với Đ và những người khác đến ngã tư Tuy P đợi rồi cùng T, V và Tấn H đến ngã ba Điện Biên P - Hùng V để lấy hung khí cất giấu gần đường ray xe lửa. Sau khi lấy 04 cây đao, B cùng T, V, và Tấn H đến ngã tư Tuy P tập hợp lại với nhóm của mình, V đưa cho D một cây đao, V cầm một cây rồi cả nhóm quay lại quán “Tí H”. Lúc này, L nói là: “Mấy anh chờ chút, chứ có Công an” thì B nói: “Lên luôn chứ sợ gì” rồi cả nhóm 11 người quay lại quán “Tí H”. Đến khoảng 23h00 cùng ngày, khi nhóm L đến quán thì ông Nguyễn Đức B (Cha của L) la mắng nên L bỏ về không tham gia. Khi thấy nhóm L đến S kéo cửa quán nhưng lúc này B, T, D và V mỗi người cầm một cây đao xông vào trong quán, những người khác đứng bên ngoài hỗ trợ. Khi B vào chém S, làm S ngã xuống thì V và T cũng cầm đao chém về phía S nhưng S lấy ghế nhựa đỡ nên chỉ làm vỡ ghế. S bật dậy chạy ra ngoài thì V dùng tay ôm giữ S, lúc này B chém về phía S nhưng do V đang ôm S nên V đưa tay phải lên đỡ và bị chém trúng vào tay phải. Sau đó, S tung chạy ra thì bị D cầm đao chém sượt qua đầu. Trong lúc, B, T, D và V dùng hung khí chém nhóm S và S thì Tấn H, P Đ dùng đá ném vào trong còn Huy H, Đ và K đứng bên ngoài hỗ trợ về mặt tinh thần cho nhóm của mình vào trong đánh nhóm S và S. Bị vây đánh, S và S dùng vỏ chai bia Quy Nhơn ném lại chống trả, anh Phạm Văn B (cha ruột S), Đoàn Minh A (hàng xóm của S) cũng dùng vỏ chai bia ném vào nhóm T, ông B cầm một chai đập trúng vào đầu T thì cả nhóm bỏ đi. Sau khi hai bên giải tán, anh B chở L quay lại quán để xin lỗi thì bị anh B đánh nhưng không gây thương tích gì đáng kể. Còn bị S dùng tay đấm một cái vào mặt làm dập môi và gãy một cái răng nhưng L không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và từ chối giám định thương tật.
Hậu quả:
- Phạm Ngọc S bị xây xát da vùng thái dương phải, xây xát da vùng lưng, cẳng bàn tay phải, vết thương gối phải 1/3 giữa ngoài gân bánh chè phải. Điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định từ ngày 16/01/2023 đến ngày 17/01/2023 ra viện. Ngày 23/02/2023, Phạm Ngọc S từ chối giám định thương tật, có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
- Đối với thương tích của Lê Đức Thành L, Nguyễn Huy H, Đinh Hoàng V, Nguyễn Ngọc T không có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, từ chối giám định thương tật.
- Ngày 18/01/2023, Ủy ban nhân dân phường Trần Quang Diệu có văn bản đề nghị xử lý nhóm đối tượng sử dụng hung khí gây rối trật tự công cộng.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Gia B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên
Vật chứng vụ án:
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 110cm; lưỡi bằng kim loại dài 40cm, một lưỡi sắc.
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 110cm; lưỡi bằng kim loại dài 60cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn.
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 100cm, thân cán được quấn bằng vải đen, trắng đan xen; lưỡi bằng kim loại dài 56cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn.
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 200cm; lưỡi bằng kim loại dài 38cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn.
- 01 ghế nhựa màu xanh kích thước (65x45x45) cm, có bốn chân, lưng tựa, ghế bị bể phần lưng tựa.
- 04 (bốn) cục bê tông không rõ hình kích thước lần lượt là (13x6x5)cm, (14x7x4)cm, (14x6x5)cm và (13x6x4)
- 01 (một)cục đá không rõ hình kích thước (11x8x5) cm.
- 02 mảnh vỡ thủy tinh loại chai bia Quy Nhơn kích thước (9x5) cm và (9x4) cm.
Về dân sự: Gia đình Lê Đức Thành L đã bồi thường cho Phạm Ngọc S số tiền 3.000.000 đồng, S không yêu cầu gì thêm.
- Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSQN ngày 17.3.2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Phan Gia B về tội “ Gây rối trật tự công cộng ” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Gây rối trật tự công cộng ”
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Phan Gia B từ 24 tháng đến 30 tháng tù;
- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ sức khỏe, có trình độ học vấn nhất định, có năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đồng ý giúp nhóm của Đ đánh nhau giải quyết mâu thuẫn, bản thân bị cáo tự mình lấy hung khí, trực tiếp cầm dao tham gia đánh nhau chém anh S 2 lần; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tư tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nên cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
Tuy nhiên cũng xem xét:
Trong quá trình điều tra bị cáo B thuộc trường hợp “thành khẩn khai báo” đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo đã có thời gian tham gia quân ngũ nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, anh S không yêu cầu khởi tố hình sự; nên cần xem xét trong quá trình lượng hình cho bị cáo.
Về phần dân sự:
Hậu quả xảy ra đối với anh S, L, Huy H, V, T bị thương tích nhưng từ chối giám định thương tật và gia đình anh L đã bồi thường cho anh S 3.000.000đ, anh S không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thu giữ:
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 110cm; lưỡi bằng kim loại dài 40cm, một lưỡi sắc.
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 110cm; lưỡi bằng kim loại dài 60cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn.
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 100cm, thân cán được quấn bằng vải đen, trắng đan xen; lưỡi bằng kim loại dài 56cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn.
- 01 cây đao cán bằng kim loại dài 200cm; lưỡi bằng kim loại dài 38cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn.
- 01 ghế nhựa màu xanh kích thước (65x45x45) cm, có bốn chân, lưng tựa, ghế bị bể phần lưng tựa.
- 04 (bốn) cục bê tông không rõ hình kích thước lần lượt là (13x6x5)cm, (14x7x4)cm, (14x6x5)cm và (13x6x4)
- 01 (một)cục đá không rõ hình kích thước (11x8x5) cm.
- 02 mảnh vỡ thủy tinh loại chai bia Quy Nhơn kích thước (9x5) cm và (9x4) cm.
Tại bản án số 69/2024/HS-ST ngày 05.4.2024 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, T. Bình Định đã có hiệu lực; tại phần quyết định: đã tịch thu tiêu huỷ số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06.02.2024 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn, nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.
Về vấn đề khác:
Đối với Phạm Ngọc S, Phan Ngọc S, Trương Lê Thanh Đ, Đinh Hoàng V, Nguyễn Ngọc T, Sử Diệp Thanh P, Huỳnh Nguyễn Thanh D, Đinh Văn Đ, Nguyễn Tấn H đã bị khởi tố và đã bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS vào ngày 05/4/2024.
Đối với Nguyễn Huy H, Lê Đức Thành L là người rủ rê, lôi kéo Đ, Đ, D, P, K tham gia đánh nhau với nhóm của S. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Huy H, Lê Đức Thành L, Nguyễn Văn K là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì hành vi của Huy H, L, K không phạm tội "Gây rối trật tự công cộng". Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã chuyển hồ sơ để xử lý hành chính đối với Nguyễn Huy H, Lê Đức Thành L, Nguyễn Văn K theo quy định của pháp luật.
Đối với ông Phạm Văn B và Đoàn Minh A khi thấy nhóm của Trương Lê Thanh Đ cầm hung khí xông vào đánh nhóm của Phạm Ngọc S nên có hành vi ném vỏ chai bia về phía nhóm của Đ, Ông B và Minh A không biết mâu thuẫn trước đó của hai nhóm, không có sự bàn bạc, thống nhất đánh nhau với nhóm của S đánh lại nhóm Đ, do đó hành vi của ông Phạm Văn B, Đoàn Minh A không phạm tội.
Về án phí:
Bị cáo B bị kết án về tội “ Gây rối trật tự công cộng ” nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự , Nghị quyết soá 326/2016/UBTVQH14 ngaøy 30.12.2016
Các đề nghị của đại diện VKSNDTP Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định là phù hợp với hướng nhận định của HĐXX
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136. Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Gia B phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Gia B 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.
4.Về án phí: Bị cáo Phan Gia B phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - Cơ quan CSĐT CA T. Bình Định; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Đông Thiên |