vanban.org

Bản án 100/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 06/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 43cm, chuôi bằng nhựa màu đen dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 32cm, bản rộng nhất 02cm, có một đầu nhọn; 01 dao bằng kim loại dài 35cm, chuôi bằng kim l…

(Tất cả vật chứng, tài sản, đồ vật có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng, tài sản số 77/QĐ-VKS-TPNĐ ngày 14-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo V phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 43cm, chuôi bằng nhựa màu đen dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 32cm, bản rộng nhất 02cm, có một đầu nhọn; 01 dao bằng kim loại dài 35cm, chuôi bằng kim l…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HS-ST
Ngày: 06-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quỹ

Ông Ngô Kim Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 03606402xxxx; nơi thường trú: Số 4/9/179 đường T, phường C, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Ngõ 37 đường Đ, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H (đã chết) và bà Vũ Thị T (đã chết); gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1964 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23-12-1993 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Hà cũ xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Cố ý gây thương tích; bị cáo bị tạm giam ngày 20-12-2024 đến nay; hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định (có mặt).

- Bị hại: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1965; nơi thường trú: Số 24/67 đường N, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Ngõ 37 đường Đ, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 27-5-2025 của ông Phạm Văn S: Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số 2/26 phố N, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (có mặt).

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; ông Nguyễn Như H, sinh năm 1964; ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1952 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức V và ông Phạm Văn S, sinh năm 1965, trú tại ngõ 37 đường Đ, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định là hàng xóm của nhau. Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 03-12-2024, V đốt rác phía sau nhà ông S nên cả hai xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Ông S thách thức “Mày thích thì tao với mày mỗi người một con dao ra chém nhau” rồi vào nhà lấy 01 con dao bằng kim loại tối màu dài khoảng 43cm, bản rộng nhất khoảng 02cm cầm trên tay phải và 01 gậy gỗ dạng hình trụ tối màu dài khoảng 90cm cầm trên tay trái. V về nhà lấy 01 con dao bằng kim loại sáng màu dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 07cm, cán bằng nhựa màu đen cầm trên tay trái và 01 con dao bằng kim loại tối màu dài khoảng 35cm, bản rộng khoảng 09cm, cán bằng kim loại cầm trên tay phải. V và ông S cầm hung khí, đi bộ ra đầu ngõ 37 đường Đ để đánh nhau. Ông S đứng dưới lòng đường Đ, V đứng trên vỉa hè. Sau đó, ông S lao vào, tay phải cầm dao chém 01 nhát về phía người V, V giơ tay phải lên đỡ thì bị chém trúng vào ngón cái bàn tay phải làm rách da chảy máu. Ông S lùi vào trong ngõ 37 đường Đ thì bị V đẩy ngã rồi vung dao chém 02 đến 03 nhát về phía người ông S gây thương tích rách da chảy máu. Sau khi được người dân can ngăn, V cầm 02 con dao về nhà, còn ông S được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định.

Hậu quả:

Ông Phạm Văn S bị thương tích: 01 vết thương thành ngực có 02 đường vuông góc hướng lên trên góc tại giữa xương ức cạnh phải dài 12cm, cạnh trái dài 06cm; 01 vết thương vùng đỉnh chẩm trái dài khoảng 08cm, bờ sắc gọn; 01 vết thương ngón 1 bàn tay trái lộ gân gấp đứt tại vùng II, đứt gân duỗi, gãy chỏm đốt 1 ngón 1; 01 vết thương đùi phải rách da.

Nguyễn Đức V bị thương tích 01 vết rách da chảy máu tại ngón cái bàn tay phải dài khoảng 01cm.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Văn S và Nguyễn Đức V; tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ toàn bộ số hung khí của Nguyễn Đức V và ông Phạm Văn S đã sử dụng; tiến hành ghi lời khai của người làm chứng, cho người làm chứng nhận dạng đối với Nguyễn Đức V và ông Phạm Văn S; tiến hành thực nghiệm điều tra hành vi phạm tội của Nguyễn Đức V.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 179/24/TgT ngày 10-12-2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Nam Định đối với ông Phạm Văn S, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 18%. Cơ chế hình thành vết thương: vật cứng có cạnh sắc tác động gây thương tích.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 48/25/TgT ngày 25-4-2025 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Nam Định đối với Nguyễn Đức V kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%. Cơ chế hình thành vết thương: vật cứng có cạnh sắc tác động gây thương tích.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi ông Phạm Văn S dùng dao chém gây thương tích cho V. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Phạm Văn S về hành vi này.

Về vấn đề trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đức V đã tác động gia đình bồi thường cho ông Phạm Văn S số tiền 50.000.000 đồng. Ông S đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Đức V.

Bản cáo trạng số 102/CT-VKS-TPNĐ ngày 14-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Đức V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Đức V xác nhận đã trực tiếp dùng dao chém, gây thương tích cho ông Phạm Văn S như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và không khai báo thêm tình tiết mới.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 18%, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20-12-2024.

Vấn đề bồi thường dân sự: Sau khi nhận số tiền 50.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 43cm, chuôi bằng nhựa màu đen dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 32cm, bản rộng nhất 02cm, có một đầu nhọn; 01 dao bằng kim loại dài 35cm, chuôi bằng kim loại dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 23cm, đầu dao bằng; 01 dao bằng kim loại dài 30cm, chuôi bằng kim loại dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 16cm, đầu dao bằng; 01 gậy gỗ hình trụ tròn dài khoảng 90cm, đường kính khoảng 02cm, một đầu nhọn.

Án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa không có sự mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ như lời khai của bị hại; biên bản ghi lời khai và biên bản nhận dạng của người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản thu giữ toàn bộ số hung khí của Nguyễn Đức V và ông Phạm Văn S đã sử dụng; biên bản thực nghiệm điều tra hành vi phạm tội của Nguyễn Đức V; bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 179/24/TgT ngày 10-12-2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Nam Định đối với ông Phạm Văn S cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn cá nhân, khoảng 18 giờ 20 phút ngày 03-12-2024, tại khu vực đầu ngõ 37 đường Đ, phường H, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, Nguyễn Đức V đã có hành vi dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém ông Phạm Văn S gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%.

Bị cáo Nguyễn Đức V là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm và ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị hại cũng có một phần lỗi đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét lượng hình khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đồng thời nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Do ông Phạm Văn S không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng đã thu giữ là phương tiện bị cáo, bị hại sử dụng để đánh nhau nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức V là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20-12-2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 43cm, chuôi bằng nhựa màu đen dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 32cm, bản rộng nhất 02cm, có một đầu nhọn; 01 dao bằng kim loại dài 35cm, chuôi bằng kim loại dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại tối màu dài 23cm, đầu dao bằng; 01 dao bằng kim loại dài 30cm, chuôi bằng kim loại dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu dài 16cm, đầu dao bằng; 01 gậy gỗ hình trụ tròn dài khoảng 90cm, đường kính khoảng 02cm, một đầu nhọn.

(Tất cả vật chứng, tài sản, đồ vật có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng, tài sản số 77/QĐ-VKS-TPNĐ ngày 14-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức V được miễn án phí.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức V, bị hại là ông Phạm Văn S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị hại, bị cáo có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ