vanban.org

Bản án 100/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 17/04/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b, c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trương M, Nguyễn Văn H; sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. [2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương M - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b, c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HS-PT
Ngày: 17 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết.

Các Thẩm phán:

1. Trần Duy Phương

2. Lê Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Trần Quyết Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 71/2025/TLPT-HS ngày 17/02/2025 đối với bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H, về tội “Cố ý gây thương tích”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Trương M; tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 7 năm 1975 tại tỉnh : Đắk Lắk.

Nơi đăng ký thường trú: số F Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở hiện nay: tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị Tuyết H1 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2007; bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Đoàn Thị P.

Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 11/5/2000 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng, tại Bản án số 45/HSST. Bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/11/2023 đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: không; sinh ngày 28 tháng 9 năm 1997 tại tỉnh : Đắk Lắk.

Nơi cư trú: liên gia I, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Kim L; bị cáo có vợ là Trần Thị Mỹ N và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 20/6/2017 bị Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng tại quyết định số 16174/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến ngày 16/01/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H: Ông Lê Xuân Anh P1, ông Trịnh Gia Q, bà Lê Thị Thu P2 – Luật sư thuộc Công ty L2 và Cộng sự. Cùng địa chỉ: Số I P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (ông Lê Xuân Anh P1 có mặt; ông Trịnh Gia Q và bà Lê Thị Thu P2 có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Trương M: Ông Hồ Ngọc H2 - Luật sư thuộc Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số I T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

- Bị hại: Ông Nghiêm V, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Huy H3 - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Huy H3 - Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số D H, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Người giám định: Ông Bùi Bình T – Giám định viên thuộc Trung tâm Giám định Pháp y tỉnh Đ. Địa chỉ: Số E L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/11/2022, tại Bến xe liên tỉnh Đ; địa chỉ K, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, ông Châu Văn B và ông Nghiêm V là lái xe của nhà xe C2 (Công ty TNHH C3; địa chỉ: Đ, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đang sửa xe ô tô khách trước khu vực kiốt nhà xe P4. Lúc này, bà Đoàn Thị P là chủ nhà xe P thấy ông B đậu xe lấn sang một phần sân phía trước nhà xe Phước M1 nên đi ra yêu cầu ông B và anh V đậu xe gọn lại. Lúc này, giữa bà Phước với anh V xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Bà P3 dùng tay định tát anh V thì anh V gạt ra được và ném chiếc khăn đang sử dụng để lau xe vào người bà Phước. Thấy vậy, Trương M (chung sống như vợ chồng với bà Phước) đi ra và nói với anh V “Sao mày đánh vợ tao” rồi dùng tay phải tát mạnh vào vùng mặt bên trái của anh V khiến anh V ngã xuống nền sân; ông B thấy vậy chạy đến can ngăn M ra. Lúc này, Nguyễn Văn H (là người làm thuê cho nhà xe P4) thấy sự việc cũng chạy đến nói với anh V “Nói chuyện thì đừng có chỉ tay, chỉ chân” thì anh V nói lại “Không phải việc của mày”. Nghe vậy, H bực tức nên cùng một nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) lao vào đánh anh V; H dùng tay chân đánh nhiều cái vào người anh V thì anh V chạy vào quán nước gần đó. Thấy vậy, bà Lê Thị L1 (là người bán xôi ở bến xe) chạy đến can ngăn H, nên H không đánh anh V nữa. Sau khi bị đánh, anh V vẫn tiếp tục ở lại khu vực bến xe. Tuy nhiên sau đó, anh V kêu đau đầu và có biểu hiện nôn ói. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, ông B thấy anh V nôn ói, không đi lại được nên ông B đã nhờ ông Trần Văn T1 (là người thuê kiốt trong bến xe) đưa anh V đến Bệnh viện Đ cấp cứu.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 26/TgT – TTPY ngày 19/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Phần mềm: Sẹo mổ hình cung theo hình khuyết xương sọ (trán – đỉnh – thái dương phải), kích thước (25 x 0,1)cm; Sẹo dẫn lưu đỉnh phải, kích thước (1 x 0,3)cm; Sưng nề, xây xát trán phải để lại vết bầm chéo trán phải đã mờ, cách đường giữa 4cm, dưới chân tóc trán phải 2cm, đầu dưới trên cung mày 2cm, kích thước (4 x 2)cm.

+ Xương: Khuyết xương sọ trán – đỉnh – thái dương phải, đáy phập phồng, kích thước (12 x 10,5)cm.

+ Các bộ phận cơ thể khác: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái; Tụ máu dưới màng cứng bán cầu phải (đã phẫu thuật).

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích sau khi tổng hợp (cộng) các tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích theo Phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT (Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong giám định Pháp y... ngày 28/8/2019 của Bộ Y) hiện tại là 56% (Năm mươi sáu phần trăm).

- Vật tác động: Vật tày cứng.

- Cơ chế hình thành thương tích:

+ Chấn thương vùng trán; tổn thương gây tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu não do vật tày cứng tác động trực tiếp theo hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái gây nên.

+ Sẹo mổ hình cung vùng trán – đỉnh – thái dương phải; sẹo dẫn lưu đỉnh phải; khuyết xương sọ trán – đỉnh – thái dương phải: Phẫu thuật giải ép lấy máu tụ dưới màng cứng bán cầu não phải tạo nên.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 296/TgT – TTPY ngày 01/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Phần mềm: Sẹo mổ hình cung theo hình khuyết xương sọ (trán – đỉnh – thái dương phải), kích thước (25 x 0,1)cm; Sẹo dẫn lưu đỉnh phải, kích thước (1 x 0,3)cm; Sưng nề, xây xát trán phải không để lại sẹo không làm biến đổi sắc tố da; Sẹo mổ đỉnh – thái dương trái, kích thước (4,5 x 0,5)cm; Sẹo dẫn lưu đỉnh trái, kích thước (1 x 1)cm.

+ Xương: Khuyết xương sọ trán – đỉnh – thái dương phải, đáy phập phồng, kích thước (12 x 10,5)cm; Khuyết xương sọ đỉnh – thái dương trái, đáy chắc, kích thước (1,5 x 1,5)cm.

+ Các bộ phận cơ thể khác: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái; Tụ máu dưới màng cứng bán cầu phải.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do từng thương tích gây nên hiện tại là:

+ Sẹo mổ hình cung theo hình khuyết xương sọ (trán – đỉnh – thái dương phải), kích thước (25 x 0,1)cm, tỷ lệ: 2%.

+ Sẹo dẫn lưu đỉnh phải, kích thước (1 x 0,3)cm, tỷ lệ: 1%.

+ Sưng nề, xây xát trán phải không để lại sẹo không làm biến đổi sắc tố da, tỷ lệ: 0%.

+ Sẹo mổ đỉnh – thái dương trái, kích thước (4,5 x 0,5)cm, tỷ lệ: 2%.

+ Sẹo dẫn lưu đỉnh trái, kích thước (1 x 1)cm, tỷ lệ: 2%.

+ Khuyết xương sọ trán – đỉnh – thái dương phải, đáy phập phồng, kích thước (12 x 10,5)cm, tỷ lệ: 41%.

+ Khuyết xương sọ đỉnh – thái dương trái, đáy chắc, kích thước (1,5 x 1,5)cm, tỷ lệ: 16%.

+ Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, tỷ lệ: 8%.

+ Tụ máu dưới màng cứng bán cầu phải, tỷ lệ: 8%.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích sau khi tổng hợp (cộng) các tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích theo Phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT (Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong giám định Pháp y... ngày 28/8/2019 của Bộ Y) hiện tại là 61% (Sáu mươi mốt phần trăm).

- Kết luận khác theo yêu cầu của trưng cầu: Tỷ lệ tổn thương cơ thể 56% trong Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 26/TgT – TTPY, ngày 19/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, là do thương tích mới xảy ra trong vụ việc ngày 29/11/2022 (thể hiện tại hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đ) gây nên, không liên quan gì đến tổn thương cũ (theo hồ sơ số nhập viện: 2220015048, vào viện ngày 24/02/2022 và ra viện ngày 14/3/2022 của Bệnh viện C4, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Nghiêm V, sinh năm 1985, trú tại: xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung lần 2 tổn thương cơ thể trên người sống số 422/KLTTCT – PY ngày 31/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận:

- Kết quả khám giám định: Vết mổ để lại sẹo hình vòng cung vùng trán – đỉnh – thái dương phải, kích thước (25 x 0,1)cm; Vết dẫn lưu để lại sẹo đỉnh phải, kích thước (1 x 0,3)cm; Vết mổ để lại sẹo đỉnh – thái dương trái, kích thước (4,5 x 0,5)cm; Vết dẫn lưu để lại sẹo đỉnh trái, kích thước (1 x 1)cm; Khuyết xương sọ trán – đỉnh – thái dương phải đáy chắc (đã vá sọ), kích thước (12 x 10,5)cm; Khuyết xương sọ đỉnh – thái dương trái, đáy chắc, kích thước (1,5 x 1,5)cm; Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái; Tụ máu dưới màng cứng bán cầu phải.

- Kết quả CT Scanner: Teo nhu mô não thái dương phải; Khuyết sọ thái dương trán đỉnh phải, đã mổ cố định bằng lưới thép.

- Kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y: Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V tại thời điểm giám định là 56% (Năm mươi sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Do các kết luận tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 26/TgT – TTPY ngày 19/12/2022, Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 296/TgT – TTPY ngày 01/3/2023 và Kết luận giám định bổ sung lần 2 tổn thương cơ thể trên người sống số 422/KLTTCT – PY ngày 31/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với thương tích của ông Nghiêm V không đồng nhất về kết quả nên ngày 22/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có Công văn số 950/CV-ĐTTH gửi Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đề nghị giải thích nguyên nhân của sự thay đổi kết quả tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V trong 03 bản kết luận giám định pháp y trên.

Tại công văn phúc đáp số 418/CV-TTPY ngày 25/9/2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ trả lời: Theo khoản 3 Điều 2 – Nguyên tắc giám định của Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được xác định tại thời điểm giám định. Các tổn thương của ông Nghiêm V trải qua các lần chẩn đoán và điều trị khác nhau (ở các thời điểm khác nhau) dẫn đến sự thay đổi về tính chất, đặc điểm, mức độ tổn thương... do đó dẫn đến sự thay đổi về Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của các tổn thương này và đã dẫn đến sự thay đổi về Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của ông Nghiêm V.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần làm việc vận động ông Nghiêm V đi giám định tại Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên ông V từ chối giám định với lý do bệnh tật, không đi xa được.

Ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có Công văn số 705/CV-ĐTTH gửi Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đề nghị Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng phối hợp trả lời: Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có tiến hành giám định thương tích đối với ông Nghiêm V qua hồ sơ được hay không.

Ngày 07/5/2024, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có công văn phúc đáp số 151/CV-C09C(DD3) trả lời: Tại Điều 2, Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định: Giám định để xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể được thực hiện trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã bị chết hoặc mất tích hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp, ông Nghiêm V (sinh năm: 1985; trú tại: xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) không thuộc các trường hợp trên nên Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố các bị cáo Trương M, Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương M 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/11/2023 đến ngày 16/01/2024.

2.2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến ngày 16/01/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13,14/01/2025 bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo

Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại a khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là có phần nghiêm khắc.

Tại phúc thẩm bị cáo Trương M đã cung cấp thêm tình tiết được Công an xã E xác nhận: Sự việc khủng bố, chống đối chính quyền xảy ra ngày 11/6/2023 tại địa bàn 02 xã E và E huyện C, tỉnh Đăk Lắk, bị cáo M và gia đình đã phối hợp với cơ quan Công an trong việc truy bắt các đối tượng khủng bố. Do vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trương M, Nguyễn Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trương M từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù và bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam.

Người bào chữa cho bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H - Ông Lê Xuân Anh P1 trình bày: Không đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bởi lẽ:

- Hành vi của các bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H là hành vi riêng lẻ, phạm tội độc lập không đồng phạm.

- Kết luận giám định không xác định phần nào là thương tích cũ, phần nào là thương tích mới, Bệnh án của bệnh viện C4 xác định bị hại trước đó bị xuất huyết não, bị teo nhu mô não do bệnh lý, đã mổ cố định bằng lưới thép qua đó xác định là vết thương cũ. Quá trình điều tra không tiến hành thực nghiệm là thiếu sót. Vụ án xác định có nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) lao vào đánh anh V mà không truy cứu là bỏ lọt tội phạm.

Chưa xem xét hết tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Trương M đề nghị áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để làm rõ ai là người gây thương tích cho bị hại, giám định lại xác định thương tích cũ, thương tích mới.

Tại hồ sơ vụ án có 03 bản kết luận giám định pháp y về thương tích đối với người bị hại nhưng có hai kết quả khác nhau (56% và 61%). Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào kết quả giám định về thương tích có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại cao nhất (61%) để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là không áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo.

- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các thương tích do bác sỹ phẫu thuật gây ra cho bị hại để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Trong tổng số các thương tích bị hại phải gánh chịu có một số thương tích là do quá trình phẫu thuật gây ra chứ không phải do các bị cáo trực tiếp gây ra. Do đó, đề nghị áp dụng điểm b,c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên Hủy bản án sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại.

Người bào chữa cho bị cáo Trương M – Ông Hồ Ngọc H2 trình bày lời bào chữa: Không đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại là 61% là không khách quan vì tại hồ sơ vụ án thể hiện người bị hại đã bị xuất huyết não và điều trị tại Bệnh viện C4, thành phố Hồ Chí Minh trước đó. Việc Giám định viên - Trung tâm Pháp y tỉnh Đ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại ông Nghiêm V đều không liên quan gì đến tổn thương cũ là chưa thuyết phục. Nên đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên Hủy bản án sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra, xét xử lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lắk đối đáp: Đại diện Viện kiểm sát không đồng ý với quan điểm bào chữa của những người bào chữa cho các bị cáo đối với nam thanh niên có hành vi lao vào đánh anh V Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anThành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng các biện pháp điều tra, nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của những người này, do đó tiếp tục xác minh, khi có đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau. Hồ sơ bệnh án số 2220015048 của ông Nghiêm V thể hiện ông V bị xuất huyết não, tăng huyết áp điều trị tại khoa Nội thần kinh từ ngày 22/02/2023 xuất viện ngày 14/3/2023.

Các bị cáo nhất trí với lời bào chữa của các luật sư và không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, đánh giá có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường luật pháp, coi thường sức khỏe của người khác nên vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại Bến xe liên tỉnh Đ ở địa chỉ K, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, do mâu thuẫn cá nhân, nên bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H đã dùng tay, chân đánh ông Nghiêm V gây thương tích cụ thể:

Về tỷ lệ phần trăm thương tích của bị hại:

Quá trình điều tra xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm thực hiện 03 lần giám định. Đơn vị thực hiện việc giám định là Trung tâm Pháp y tỉnh Đ. Căn cứ Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y, Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định pháp y tâm thần, cụ thể:

- Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 26/TgT – TTPY ngày 19/12/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V là 56%.

- Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 296/TgT – TTPY ngày 01/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V là 61%.

- Tại bản Kết luận giám định bổ sung lần 2 tổn thương cơ thể trên người sống số 422/KLTTCT– PY ngày 31/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V là 56%.

. Xét kháng cáo của các bị cáo Trương M và Nguyễn Văn H thấy rằng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố B đã thực hiện 03 lần giám định thương tích đối với ông Nghiêm V. 03 bản Kết luận giám định pháp y đều của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ thực hiện việc giám định. Bản kết luận giám định đầu tiên được thực hiện sau khi xảy ra vụ việc và bản kết luận cuối cùng thực hiện khi có yêu cầu giám định bổ sung lần 2 và đều kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V là 56%; Bản kết luận giám định bổ sung thực hiện ngày 01/3/2023 kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nghiêm V là 61%.

Cấp sơ thẩm căn cứ kết luận ông Nghiêm V bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 61% để truy tố, xét xử các bị cáo Trương M, Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên,”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Trương M 06 năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là chưa áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo mà cần căn cứ tỷ lệ tổn thương cơ thể tại 02 bản kết luận giám định xác định ông Nghiêm V bị tổn thương cơ thể 56% để xét xử các bị cáo Trương M, Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới phù hợp .

Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%”.

Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả theo thỏa thuận của người bị hại và được người bị hại ông Nghiêm V có đơn xin bãi nại cho các bị cáo. Hơn nữa, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Trương M có cung cấp giấy xác nhận Công an xã E xác nhận bị cáo Trương M có công lao trong việc truy bắt các đối tượng khủng bố chống đối chính quyền xảy ra ngày 11/6/2023 tại địa bàn 02 xã E và E huyện C, tỉnh Đăk Lắk đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS cần áp dụng thêm cho bị cáo Trương Môn .

Xét lời bào chữa của những người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, Hồ sơ bệnh án số 2220015048 của Bệnh viện C4, thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Nghiêm V bị xuất huyết não, tăng huyết áp điều trị Nội khoa tại khoa Nội thần kinh từ ngày 22/02/2023 xuất viện ngày 14/3/2023. Qua đó, không có căn cứ xác định ông Nghiêm V trước đó đã mổ não. Đối với nam thanh niên có hành vi lao vào đánh ông Nghiêm V thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anThành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng các biện pháp điều tra, nhưng chưa xác định được nhân thân lai nên tiếp tục xác minh, khi có đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy: cần chấp nhận một phần kháng cáo chuyển khung hình phạt để áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho các bị cáo.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b, c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trương M, Nguyễn Văn H; sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương M 03 (ba) năm tù về tội:“Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/11/2023 đến ngày 16/01/2024.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội:“Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến ngày 16/01/2024.

[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trương M và bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ