- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Kỳ D - Th Santos D Melo"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Đoàn Kỳ D đối với ông T S.De Melo,
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-09-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thuận Nhi
Bà Hà Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Kỳ D, sinh năm 1999.
Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: đường H, phương T, quận C, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông T S. De Melo, sinh năm 1991.
Số hộ chiếu: FR243110 do Brazil cấp ngày 26-6-2016; nơi cư trú: 152 đường B, thành phố A, bang Sergipe, Brazil. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Đoàn Kỳ D, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: bà D và ông T S. De Melo quen biết, tìm hiểu và nảy sinh tình cảm vào năm 2017. Ngày 16/3/2018, cả hai hai đăng ký kết hôn, nhưng không tổ chức đám cưới theo phong tục Việt Nam, bà và ông T S. De Melo đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân quận C. Sau khi kết hôn, cả hai sống chung với nhau, đến cuối năm 2023 thì ông T S. De Melo về nước. Sau khi ông T về nước thì xác định không thể về Việt Nam sinh sống, mà bà D thì không thể qua Brazil sinh sống. Vì khoảng cách địa lý, nên tình cảm dần phai nhạt. Nay, bà xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T S. De Melo.
- Về con chung: bà D và ông T S. De Melo có một con chung là M. Bryan Thiên A, sinh ngày 17/06/2018. Ly hôn, bà có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung cho đến khi 18 tuổi. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà D và ông T xác định bà và ông T S. De Melo không có tài sản chung và không có nợ chung.
Bà D đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án mà vắng mặt bà. Bà và ông T S. De Melo đã thống nhất hết các vấn đề giải quyết ly hôn nên đề nghị tòa án xét ngắn thời gian xét xử vụ án và không thông qua thủ tục hòa giải.
2. Bị đơn ông T S. De Melo, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông T S. De Melo là cầu thủ bóng đá. Trong thời gian ông T ở Việt Nam, ông và bà Đoàn Kỳ D quen biết nhau và quyết định kết hôn. Cả hai đã đăng ký kết hôn tại thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện, tại Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng, được ghi nhận tại Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2018. Ban đầu, cả hai chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó, khi ông T trở về Brazil, những mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn đã phát sinh giữa ông bà. Hiện nay, ông và bà D không còn tình cảm gắn bó. Do Bà Đoàn Kỳ D đã nộp đơn xin ly hôn, ông hoàn toàn đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với Bà Đoàn Kỳ D.
- Về con chung: ông và bà D có một con chung tên là M. Bryan Thiên A, sinh ngày 17/6/2018. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao con cho Bà Đoàn Kỳ D trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông và bà D xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Hiện tại ông T đang làm việc và sinh sống tại Brazil nên không thể về Việt Nam để tham gia xét xử vụ án được. Vì vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông. Các vấn đề ly hôn của bà D và ông đã thông nhất nên đề nghị tòa án Tòa án rút ngắn thời hạn giải quyết vụ án và không cần thông qua thủ tục hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn Bà Đoàn Kỳ D cư trú tại thành phố Đà Nẵng, Việt Nam và bị đơn ông T S. De Melo, cư trú 152 đường B, thành phố A, bang Sergipe, Brazil nên vụ án về ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, theo quy định tại các Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 464 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài là bị đơn ông T S. De Melo bằng đường bưu chính và yêu cầu ông gửi văn bản phản hồi cho Tòa án; đồng thời, thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; cũng như thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa, theo quy định tại Điều 474 và Điều 476 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 17-9-2025, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng nhận được Đơn trình bày ý kiến và Đơn xin xét xử vắng mặt, rút ngắn thời hạn giải quyết vụ án của ông T S. De Melo được hợp pháp hoá lãnh sự chữ ký tại Đại sự quán Việt Nam tại Brazil vào ngày 26-8-2025. Trong đó, ông T đồng ý về yêu cầu ly hôn của bà Duyên; ông đồng ý giao con chung tên là M. Bryan Thiên A, sinh ngày 17-6-2018 cho bà Đoàn Kỳ D trực tiếp nuôi dưỡng; ông xác định ông và bà D không có tài sản chung và nợ chung; đồng thời ông đề nghị rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, xin xét xử vắng mặt và không thông qua thủ tục hòa giải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông T, thì thấy: Vợ chồng ông bà tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2018 tại Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân tự nguyện và được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, thì ông T quay trở lại Brazil để sinh sống và làm việc, còn bà thì vẫn tiếp tục sống tại Đà Nẵng, Việt Nam. Ông bà không tìm được tiếng nói chung về việc định cư lâu dài. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, do khoảng cách địa lý nên đời sống chung cũng đã mất, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu xin ly hôn của bà D đối với ông T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Bà Đoàn Kỳ D và ông T S. De Melo xác định có một con chung tên là Melo Bryan Thiên An, sinh ngày 17-6-2018. Ly hôn, bà D và ông T thống nhất giao con M. Bryan Thiên A cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Bà D không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con chung của bà D và ông T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đoàn Kỳ D và ông T S. De Melo xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm Bà Đoàn Kỳ D phải chịu, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 228, Điều 464, Điều 469 và điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Đoàn Kỳ D đối với ông T S.De Melo,
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho Bà Đoàn Kỳ D được ly hôn với ông T S.De Melo.
2. Về con chung: Giao con chung M. Bryan Thiên A, sinh ngày 17-6-2018 cho Bà Đoàn Kỳ D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Ông T S. De Melo không phải cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, Bà Đoàn Kỳ D và ông T S. De Melo có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Đoàn Kỳ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004073 ngày 23-4-2025 của Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng, nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Bà Đoàn Kỳ D vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; bị đơn ông T S. De Melo không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Minh Phượng
Phan Thị Thuận Nhi
Ngô Hà Nam
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Đà Nẵng; - UBND phường Hải Châu; - THADS TP. Đà Nẵng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Hà Nam |