- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hải Y-Hồ Tấn Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Trần Thị Hải Y và ông Hồ Tấn Đ được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN A TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-8-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN A, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Minh Việt
Bà Hồ Lệ Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân A, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân A, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hải Y, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Khu 14, xã B, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
-Bị đơn: Ông Hồ Tấn Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2025 bà Trần Thị Hải Y trình bày:
Bà Y và ông Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/02/2012. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong lối sống, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Y không còn chung sống với ông Đ từ tháng 12/2024 đến nay. Vì vậy, bà Y yêu cầu ly hôn với ông Đ.
Thời gian chung sống bà Y và ông Đ có con chung tên Hồ Đức A, sinh ngày 20/6/2012 và Hồ Đức V, sinh ngày 19/4/2017. Hiện con chung do ông Đ nuôi dạy. Khi ly hôn bà Y tiếp tục giao con chung cho ông Đ nuôi dạy nhưng bà Y không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung bà Y và ông Đ tự thỏa thuận, nợ chung không có nên bà Y không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Trần Thị Hải Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồ Tấn Đ. Do ông bà chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông Đ có địa chỉ cư trú tại ấp B, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Y thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân A, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ nhưng ông Đ không có văn bản ý kiến về yêu cầu của bà Y và vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bà Y có yêu cầu xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Y theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Bà Y và ông Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/02/2012. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên bà Y yêu cầu ly hôn với ông Đ. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tổ chức hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông Đ vắng mặt tại phiên hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà Trần Thị Hải Y và ông Hồ Tấn Đ được ly hôn.
Thời gian chung sống bà Y và ông Đ có con chung tên Hồ Đức A, sinh ngày 20/6/2012 (giới tính nam) và Hồ Đức V, sinh ngày 19/4/2017 (giới tính nam). Xét thấy, bà Y tự nguyện giao con chung cho ông Đ tiếp tục nuôi dạy là có căn cứ. Bởi vì, con chung hiện ông Đ nuôi dạy nên việc hoán đổi người trực tiếp nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của con chung. Vì vậy cần tiếp tục giao con chung cho ông Đ nuôi dạy là phù hợp.
Quá trình giải quyết vụ án ông Đ không yêu cầu bà Y cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y xác định thời gian chung sống ông bà có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Y phải chịu án phí theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 59, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Bà Trần Thị Hải Y và ông Hồ Tấn Đ được ly hôn.
2.Về con chung: Bà Trần Thị Hải Y có nghĩa vụ tiếp tục giao con chung tên Hồ Đức A, sinh ngày 20/6/2012 (giới tính nam) và Hồ Đức V, sinh ngày 19/4/2017 (giới tính nam) cho ông Hồ Tấn Đ tiếp tục nuôi dạy. Bà Trần Thị Hải Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Y không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng bà có quyền thăm nom con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai có quyền cản trở.
3.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Hải Y phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 04 tháng 4 năm 2025 bà Y có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0022297 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -Ủy ban nhân dân xã H; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Kiều Trang |