- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Kiều M và ông Võ Chí T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 9 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Thành.
2. Bà Bùi Ngọc Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Thật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Kiều M, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Q, xã K, huyện U, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Võ Chí T, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã Đ, huyện N, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2024, cùng các văn bản khác kèm theo nguyên đơn là bà Lê Kiều M trình bày:
Về hôn nhân, bà (Lê Kiều M) và ông Võ Chí T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, về sau vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cải, tính tình cả hai không còn phù hợp, vợ chồng không quan tâm và nhường nhịn nhau mà không thề hoà giải, hàn gắn. Bà nhận xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Chí T. Về con chung có 01 người tên là Võ Hữu T (giới tính nam) sinh ngày 03/9/2015 hiện do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Võ Chí T cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không có yều cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn là ông Võ Chí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Bà Lê Kiều M yêu cầu ly hôn với ông Võ Chí T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là bà Lê Kiều M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
Bị đơn là ông Võ Chí T vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
[2]. Xét về hôn nhân: Bà Lê Kiều M và ông Võ Chí T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2014 đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, thường xuyên tranh cãi, không tôn trọng nhau và thường xuyên gây áp lực cho nhau. Mâu thuẫn gay gắt trầm trọng mà không thể tự hòa giải, hàn gắn. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Lê Kiều M yêu cầu ly hôn với ông Võ Chí T. Ông Võ Chí T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai chứng cứ để Tòa án xem xét cho thấy ông Võ Chí T không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do hôn nhân giữa bà Lê Kiều M và ông Võ Chí T vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Căn cứ vào các điều 9, 14 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bà Lê Kiều M và ông Võ Chí T không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Lê Kiều M và ông Võ Chí T không được công nhận là vợ chồng.
[3]. Về con chung có 01 người tên là Võ Hữu T (giới tính nam) sinh ngày 03/9/2015 hiện tại do bà Lê Kiều M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Lê Kiều M yêu cầu được nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy, cháu Võ Hữu T có ý kiến nguyện vọng được sống với mẹ là bà Lê Kiều M, do đó cần phải xem xét theo nguyện vọng của cháu theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Võ Hữu T cho bà Lê Kiều M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Kiều M không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Kiều M phải chịu chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Kiều M và ông Võ Chí T là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao Võ Hữu T (giới tính nam) sinh ngày 03/9/2015 cho bà Lê Kiều M chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Võ Hữu T đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Ông Võ Chí T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Kiều M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Lê Kiều M đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015098, ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Ngọc Hiển; - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau); - Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Phước |