vanban.org

Bản án 100/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 23/07/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tô Xuân Q về việc:

Hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Cập nhật sang tên GCNQSD đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tô Xuân Q về việc:
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 168 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HC-ST
Ngày: 23-7-2024
V/v khiếu kiện quyết định hành chính về
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;

2. Bà Lê Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLST-HC ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

,

- Người khởi kiện: Ông Tô Xuân Q, sinh năm 1999 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Trương Ngọc N, sinh năm: 1965 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt) (theo hợp đồng ủy quyền ngày 22/01/2024).

Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

+ Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Tô Xuân Q và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Trương Ngọc N trình bày:

Ông Tô Xuân Q là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị Thanh T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 837971 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 25/12/2017 đúng tên bà Nguyễn Thị Thanh T1 đối với thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88, Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 837972 do UBND thành phố P cấp ngày 25/12/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Thanh T1 đối với thửa đất số 351, tờ bản đồ số 88, Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C công chứng theo quy định pháp luật.

Sau đó, ông Tô Xuân Q có nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh Văn phòng Đ để đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất theo biên nhận số 2024-1991/TNHS.

Ngày 23/02/2024, ông Tô Xuân Q bị Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất kèm theo Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q với lý do “hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” nên Chi nhánh Văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất theo quy định mà hoàn trả lại hồ sơ của ông Tô Xuân Q.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q đối với hai thửa đất nêu trên chưa có quyết định thu hồi đất, đất không bị tranh chấp, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật; trong đó có quyền chuyển nhượng và quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nay Chi nhánh văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình trong việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q là trái quy định của pháp luật và làm hạn chế, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Q.

Do đó, ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q.

+ Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q theo đúng quy định của pháp luật.

* Tại văn bản số 1235/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 26/4/2024, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo văn bản số 3557/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 17/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

* Tại văn bản số 3557/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 17/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày:

Ngày 29/01/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q tại biên nhận số 2024-1991/TNHS.

Ông Tô Xuân Q nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị Thanh T1 đối với thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88, diện tích 140,0m2 đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 837971 do UBND thành phố P cấp ngày 25/12/2017 và thửa đất số 351, tờ bản đồ số 88, diện tích 860,0m2 đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 837972 do UBND thành phố P cấp ngày 25/12/2017; địa chỉ các thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88 theo Giấy chứng nhận số CL 837971 và thửa đất số 351, tờ bản đồ số 88 theo Giấy chứng nhận số CL 837972 do UBND thành phố P cấp cùng ngày 25/12/2017 có nguồn gốc được tách từ thửa đất số 318, tờ bản đồ số 88 theo Giấy chứng nhận số CG 441610 do thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất diện tích 140,0m2 từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của UBND thành phố P (điều chỉnh lại Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 do bà Nguyễn Thị Thanh T1 có đơn xin điều chỉnh vị trí chuyển mục đích). Qua kiểm tra, vị trí chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 8189/QĐ-UBND không phù hợp quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch là đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh V đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696/KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tinh”

Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT, về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T2 tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T2."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Như vậy, hiện nay Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 23/02/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V1 thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Tô Xuân Q được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản số 3588/UBND-KSTTHC ngày 05/6/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Thửa đất mà ông Tô Xuân Q đăng ký nhận chuyển quyền sử dụng đất là gồm 02 thửa đất:

Thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88, diện tích 140,0m2, mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số (gọi tắt là Giấy chứng nhận) CL 837971 do UBND thành phố P cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 vào ngày 25/12/2017.

Thửa đất số 351, tờ bản đồ số 88, diện tích 860,0m2, mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận số CL 837972 do UBND thành phố P cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 vào ngày 25/12/2017.

Thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88 tại Giấy chứng nhận số CL 837972 nêu trên có nguồn gốc từ việc được phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 và được điều chỉnh tại Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của UBND thành phố P đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 88 tại Giấy chứng nhận số CG 441610 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp ngày 21/4/2017.

Ngày 30/10/2017, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 7485/QĐ-UBND về việc cho phép bà Nguyễn Thị Thanh T1 được chuyển mục đích sử dụng đất (vị trí, ranh giới được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 402-2017 do Chi nhánh Văn phòng Đ và thẩm định ngày 22/9/2017). Theo nội dung Quyết định nêu trên, UBND thành phố P cho phép bà Nguyễn Thị Thanh T1 được chuyển từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn đối với thửa đất số 318, thuộc tờ bản đồ số 88 tại Giấy chứng nhận số CG 441610 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp ngày 21/4/2017 với diện tích 140,0m2. Sau đó, do bà Nguyễn Thị Thanh T1 có đơn xin điều chỉnh vị trí chuyển mục đích sử dụng nên UBND thành phố P có Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 điều chỉnh Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 (vị trí, ranh giới được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 402-2017 do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 14/11/2017 và thay cho bản vẽ ngày 22/9/2017).

Tại Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 của UBND thành phố P về việc cho phép bà Nguyễn Thị Thanh T1 được chuyển mục đích sử dụng đất thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013; Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 22/3/2017.

Căn cứ tọa độ địa chính vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 402-2017 do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 14/11/2017 kèm theo Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của UBND thành phố P) thì:

- Đối chiếu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.

- Đối chiếu Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 22/3/2017 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.

Căn cứ điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép bà Nguyễn Thị Thanh T1 chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 và Quyết định điều chỉnh số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 là không phù hợp với Quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật số và Ngày 23/02/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q.

Do đó, đối với nội dung mà ông Tô Xuân Q yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2.

UBND thành phố P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình đối thoại, các đương sự không thống nhất về toàn bộ vấn đề, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Tô Xuân Q, hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính.

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Ông Tô Xuân Q khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Tô Xuân Q theo đúng quy định pháp luật đối với thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88, diện tích 140m2 tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CL 837971 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 25/12/2017 và thửa đất số 351, tờ bản đồ số 88, diện tích 860m2 tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CL 837972 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 25/12/2017.

Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo Điểm e khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ T3 - Bộ N1 - Bộ T4 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T2 thì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai. Như vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có tư cách pháp nhân. Tòa án xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện.

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 07/3/2024, ông Tô Xuân Q làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q và buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông Q là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Tô Xuân Q, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Diện tích đất có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị Thanh T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 441610 ngày 21/4/2017 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 88, diện tích 1000m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 25/12/2017, bà T1 tách thành 02 thửa là thửa đất số 350, tờ bản đồ số 88, diện tích 140m2 đất ở tại nông thôn được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 837971 và thửa đất số 351, tờ bản đồ số 88, diện tích 860m2 đất trồng cây lâu năm được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 837972, cùng tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc điều chỉnh Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P.

Ngày 31/12/2019, bà Nguyễn Thị Thanh T1 chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 350 và thửa đất số 351 nêu trên cho ông Tô Xuân Q theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 02704, quyển số 03/CNĐ/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1

Theo Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q thì việc trả hồ sơ đăng ký biến động của ông Tô Xuân Q là do vị trí thửa đất 350 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp với quy hoạch đất ở theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở của Quyết định cho chuyển mục đích số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P và Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc điều chỉnh Quyết định số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P, bà Nguyễn Thị Thanh T1 được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn đối với diện tích 140m2 thuộc thửa đất số 318, tờ bản đồ số 88, bà T1 đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CL 837971 ngày 25/12/2017 mang tên bà Nguyễn Thị Thanh T1.

Mặc dù, tại văn bản số 3588/UBND-NC ngày 05/6/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến gửi cho Tòa án về nội dung khởi kiện của ông Tô Xuân Q cho rằng căn cứ vào Điều 52 Luật đất đai năm 2013 việc UBND thành phố P cho chuyển mục đích đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định cho chuyển mục đích số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 và Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P là không phù hợp với quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật. Nhưng đến thời điểm hiện nay thì Quyết định cho chuyển mục đích số 7485/QĐ-UBND ngày 30/10/2017 và Quyết định số 8189/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực chưa bị cơ quan nào hủy bỏ hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ hoặc thu hồi về việc cho chuyển mục đích trái pháp luật, hiện nay thửa đất số 350 nêu trên cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Như vậy, bà Nguyễn Thị Thanh T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Tô Xuân Q theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai là đúng quy định pháp luật.

Việc ông Tô Xuân Q nhận quyền sử dụng đất cũng không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai.

Do đó, việc bà Nguyễn Thị Thanh T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Tô Xuân Q là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật nên thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai.

Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q nhưng không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào để không thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho ông Tô Xuân Q làm ảnh hưởng quyền lợi của ông Q.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Tô Xuân Q là có căn cứ nên chấp nhận, cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tô Xuân Q nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Tô Xuân Q không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

- Khoản 1 và khoản 4 Điều 95; Điều 168; Điều 191 của Luật Đất đai;

- Điều 60, Điều 61, Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tô Xuân Q về việc:

- Hủy Thông báo số 250/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 23/02/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Tô Xuân Q.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Tô Xuân Q số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000211 ngày 21/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ