vanban.org

Bản án 100/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc ông Trịnh Chí T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 107.389.873 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu, ba trăm tám mươi chín ngàn, tám trăm bảy mươi ba đồng chẵn), trong đó nợ gốc là 57.429.603 (năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm lẻ ba) đồng, lãi quá hạn: 49.960.270 đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S - Trịnh Chí T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/DS-ST
Ngày: 25/4/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN X – THÀNH PHỐ H

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phạm Thị Kim Hoàng

2/ Ông Vũ Nguyễn Phúc Hậu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận X xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 53/2025/TLST-DS ngày 21/01/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025 các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Trụ sở: Lầu 8 số 266-268 đường N, Phường V, Quận B, THÀNH PHỐ H

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng thương mại cổ phần S (Công ty S).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L - sinh năm 1998 (theo

giấy ủy quyền số 8867/2024/UQ-TGĐ ngày 05/12/2024). (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trịnh Chí T – sinh năm 2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 191A Lầu 1, đường M, Phường 5 (nay là Phường 2), Quận X,

THÀNH PHỐ H;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, phía nguyên đơn do ông

Nguyễn Đình L – đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày: Ngày 03/10/2022 ông Trịnh Chí T có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Trịnh Chí T, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng số 436438-9428 hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Theo bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, hai bên thỏa thuận tiền lãi phải trả theo lãi suất do Ngân hàng quyết định (theo Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ Sacombank phát hành tại Việt Nam số 375/2022/QĐ-TTT ngày 28/02/2022 là 2,48%/tháng), thời hạn thanh toán là ngày 25 hàng tháng. Ngân hàng đã phát hành và gửi cho ông Trịnh Chí T thẻ tín dụng số 436438-9428.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trịnh Chí T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền nợ gốc là 199.450.000 đồng và đã thanh toán 150.455.000 đồng (gồm tiền gốc, lãi, phí), từ ngày 25/02/2023 ông T ngưng thanh toán cho đến nay. Do ông Trịnh Chí T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trịnh Chí T không có thiện chí trả nợ. Ngày 26/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Trịnh Chí T, chuyển toàn bộ nợ dư còn thiếu là 57.429.603 đồng sang nợ quá hạn.

Nay, Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu ông Trịnh Chí T thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25/04/2025 là 107.389.873 đồng, trong đó nợ gốc: 57.429.603 đồng, lãi quá hạn: 49.960.270 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Trịnh Chí T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết tại Tòa án mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ, ông cũng không có văn bản ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Bị đơn ông Trịnh Chí T vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X phát biểu ý kiến: Việc tuân theo

pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa bị đơn ông Trịnh Chí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng theo quy định pháp luật. Qua kiểm sát vụ án tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]-Thẩm quyền loại việc:

Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Trịnh Chí T yêu cầu thanh toán tiền vay. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc tranh chấp dân sự: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.

[2]-Thẩm quyền lãnh thổ:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện ông Trịnh Chí T có hộ

khẩu thường trú tại Số 191A Lầu 1, đường M, Phường 5 (nay là Phường 2), Quận X, THÀNH PHỐ H. Theo xác minh của Công an phường 14, Quận X “nhân khẩu Trịnh Chí T có HKTT tại Số 191A Lầu 1, đường M, Phường 5 (nay là Phường 2), Quận X, THÀNH PHỐ H nhà đã bán, hiện nay không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ”. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 và khoản 3 Điều 5 Nghị Quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận X.

[3]-Thời hiệu khởi kiện vụ án:

Căn cứ vào thời điểm ông Trịnh Chí T ngừng thanh toán các khoản theo thỏa thuận cho Ngân hàng TMCP S bắt đầu vào ngày 25/02/2023. Ngày 12/12/2024 Ngân hàng TMCP S nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận X. Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng dân sự được xác định là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429, 688 Bộ luật dân sự 2015 nên việc khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung:

[1]- Ngày 03/10/2022, ông Trịnh Chí T có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngân hàng đã phát hành và giao thẻ cho ông Trịnh Chí T. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trịnh Chí T đã thực hiện các giao dịch từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2023 với tổng số tiền nợ gốc là 199.450.000 đồng, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 150.455.000 đồng (gồm tiền gốc, lãi, phí). Từ ngày 25/02/2023 đến nay ông T không thanh toán cho Ngân hàng nên từ ngày 26/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 57.429.603 đồng sang nợ quá hạn.

Nay, Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu cá nhân ông Trịnh Chí T

thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25/4/2025 là 107.389.873 đồng, trong đó nợ gốc: 57.429.603 đồng, lãi quá hạn: 49.960.270 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 03/10/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Trịnh Chí T, có chữ ký xác nhận của hai bên trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối hay cưỡng ép, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, phù hợp với quy định tại Điều 385 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Những sự kiện này, phía bị đơn không phản đối và không chứng minh nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh và không phản đối này.

Thực hiện hợp đồng sau khi được nhận thẻ tín dụng từ tháng 10/2022 đến

tháng 01/2023 ông Trịnh Chí T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền nợ gốc là 199.450.000 đồng, ông T chỉ trả được một phần tiền nợ gốc, lãi, phí, dư nợ còn thiếu: 57.429.603 đồng. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 26/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Vì vậy Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Trịnh Chí T phải có trách nhiệm thanh toán các khoản còn nợ tạm tính đến ngày 25/4/2025 với tổng số tiền là: 107.389.873 đồng, trong đó nợ gốc: 57.429.603 đồng, lãi quá hạn: 49.960.270 đồng, thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ và đúng quy định tại điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận

[2]- Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Yêu cầu tính lãi chậm thanh toán phát sinh sau khi xét xử của nguyên đơn là phù hợp với quy định pháp luật tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trịnh Chí T phải chịu 5.369.494 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 2.417.484 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 184, điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 385, 429, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của HĐTP TAND tối cao; Nghị Quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc ông Trịnh Chí T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền

107.389.873 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu, ba trăm tám mươi chín ngàn, tám trăm bảy mươi ba đồng chẵn), trong đó nợ gốc là 57.429.603 (năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm lẻ ba) đồng, lãi quá hạn: 49.960.270 đồng (bốn mươi chín triệu chín trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy mươi) đồng

Thời hạn thanh toán: Trả ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2/ Kể từ ngày tiếp theo của ngày 25/4/2025 ông Trịnh Chí T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trịnh Chí T phải chịu 5.369.494 đồng án phí dân sự sơ thẩm

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

2.417.484 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010695 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận X.

4/ Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết.

5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ