vanban.org

Bản án 100/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Anh V 02 (Hai) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 12/12/2022; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 100/2023/HSST
Ngày 28/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Xuân Giao;

2. Ông Phạm Cảm;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc- Kiểm sát viên;

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 89/2023/HSST, ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ ANH V; Sinh ngày 28 tháng 7 năm 1984; Tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Thế H và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Lệ H và có 02 con: Con lớn sinh năm 2012; con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án;

Tại bản án số 234/2019/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 05/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù;

Nhân thân:

Tại bản án số 17/2002/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2002, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản;

Tại bản án số 37/HSST ngày 12, 13 tháng 01 năm 2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại Bản án của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù;

Tại bản án số 32/2008/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai, xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam”; Ngày 09/5/2011 chấp hành xong hình phạt tù;

Ngày 21/01/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/12/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa;

Người bị hại:

1. Ông Y T, sinh năm 1971 (Có mặt);

Địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

2. Ông Y K, sinh năm 1989 (Có mặt);

Địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

3. Ông Cao Ngọc T, sinh năm 1974 (Có mặt);

Địa chỉ: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Lê Quang H, sinh năm 1989 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Buôn C, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

2. Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1990 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;

3. Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 2002 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;

4. Bà Bùi Thị Xuân H, sinh năm 1959 (Có mặt);

Địa chỉ: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Người làm chứng:

1. Bà H D, sinh năm 1999 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

2. Ông Y H, sinh năm 1975 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 03/12/2022 đến ngày 11/12/2022 trên địa bàn huyện C, tỉnh Đắk Lắk và thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Lê Anh V đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ 00 ngày 03/12/2022, Lê Anh V điều khiển xe mô tô biển số XXX mượn của ông Nguyễn Khắc T, đi ngang qua nhà ông Y T tại Buôn L, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, thấy không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định vào nhà ông Y T để trộm cắp tài sản. Lúc này, V dựng xe mô tô nói trên bên ngoài cổng nhà rồi đi vào trong phòng bếp nhà ông Y T thấy 01 bao hạt tiêu khô trọng lượng 40kg nên V lấy bao tiêu này vác trên vai mang đi ra. Khi đi ra ngoài sân thì bị bà H D (Là hàng xóm với ông Y T phát hiện, truy hô nên V đã bỏ lại bao hạt tiêu nói trên ở sân nhà ông Y T và điều khiển xe mô tô biển số XXX bỏ chạy;

Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 03/12/2022, sau khi vứt bỏ bao hạt tiêu tại sân nhà ông Y T thì V điều khiển xe mô tô biển số XXX đi ngang qua nhà ông Y K, địa chỉ: Buôn L, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Cách nhà ông Y T khoảng khoảng 500m), thấy không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định vào nhà ông Y K để trộm cắp tài sản. V dựng xe mô tô nói trên bên ngoài cổng, đi vào dùng tay cạy cửa bằng ván gỗ nhà bếp lục lọi nhưng không thấy tài sản gì. Tiếp đó, V đi ra dùng tay cạy cửa bằng ván gỗ rồi đột nhập vào nhà kho ở phía trước, bên trái căn nhà của ông Y K, thấy bên trong có 01 máy cưa lốc nhãn hiệu Katsu 2900, màu xanh - đen, không có lưỡi cưa; 01 máy cắt cỏ, hiệu Husqvarna 143RII, màu đỏ và 01 máy mài tay, hiệu Makita, màu xanh – đen của ông Y K nên V lấy những tài sản nêu trên bỏ lên xe mô tô biển số XXX chở đi tiêu thụ. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, V mang số tài sản trộm cắp được nêu trên đi trên đường 30/4 đến đoạn đường giao nhau với đường P, thuộc xã C, thành phố B, bán 01 máy cắt cỏ, hiệu Husqvarna 143RII, màu đỏ với giá 400.000 đồng, 01 máy mài tay, hiệu Makita, màu xanh – đen với giá 100.000 đồng cho người đàn ông (Chưa xác định nhân thân, lại lịch), còn 01 máy cưa lốc nhãn hiệu Katsu 2900, màu xanh - đen, không có lưỡi cưa thì V đã vứt bỏ trên đường đi (Không xác định được vị trí). Số tiền bán được tài sản thì V đã tiêu xài cá nhân hết;

Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 11/12/2022, V một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Blade, màu đen, biển số XXX đi từ địa bàn thị xã B, tỉnh Đắk Lắk đến địa bàn buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khi đi đến số nhà 80, buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đối diện trụ sở UBND xã E), V thấy có công trình đang xây dựng, bên trong có ông Cao Ngọc T và một số người đang làm tại đây bên cạnh để nhiều máy móc, sát công trình là căn nhà của bà Bùi Thị Xuân H, nên V dừng xe để quan sát chờ khi những người trên nghỉ trưa thì sẽ lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi làm việc xong, thì ông T bỏ máy móc vào trong nhà bà H, rồi kéo cửa sắt lại mà không khóa và đi về. V liền dựng xe đi vào mở cửa nhà bà H thấy bên trong nhà có để 01 máy hàn điện, màu đỏ, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA-200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita, màu xanh; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE, màu xanh; 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2cx2.5, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm của anh T nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. V lấy những tài sản nêu trên bỏ lên xe mô tô biển số XXX chở đến cửa tiệm mua bán nông cơ Hải T, địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, do ông Lê Quang H làm chủ, rồi bán cho ông H 01 máy hàn điện, màu đỏ, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA-200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita, màu xanh; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE, màu xanh với giá là 1.000.000 đồng. Sau khi cầm tiền, V điều khiển xe mô tô biển số XXX chở 01 cuộn dây điện màu vàng, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm về nhà tại tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk rồi cất giấu trong nhà. Số tiền bán được tài sản thì V đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 12/12/2022, Công an xã E, thành phố B phát hiện mời V lên làm việc đã khai báo hành vi vi phạm nêu trên. Sau khi biết sự việc, vợ V là Nguyễn Thị Lệ H đã giao nộp 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2cx2.5, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm cho Cơ quan Công an;

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 238 ngày 24/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, xác định: Trị giá 01 máy hàn điện, màu đỏ, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA-200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita, màu xanh; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE, màu xanh; 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2cx2.5, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm là 4.160.000 đồng;

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03 ngày 05/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cư M’gar, xác định: Trị giá 01 bao hạt tiêu khô trọng lượng 40kg là 2.300.000 đồng; Trị giá 01 máy cưa lốc nhãn hiệu Katsu 2900, màu xanh - đen, không có lưỡi cưa; 01 máy cắt cỏ, hiệu Husqvarna 143RII, màu đỏ; 01 máy mài tay, hiệu Makita, màu xanh – đen là 2.500.000 đồng;

Tại Bản kết luận giám định số 66/KL- KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số XXX có số khung không thay đổi, số máy không thay đổi, biển số là biển số thật;

Tại bản cáo trạng số: 106/CT- VKS, ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Anh V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Lê Anh V khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng như nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Anh V mức án từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù;

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự;

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành Buôn Ma Thuột đã ra các Quyết định xử lý vật chứng trả 01 máy hàn điện, màu đỏ, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA-200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita, màu xanh; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE, màu xanh; 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2cx2.5, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm cho ông Cao Ngọc T; Trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số XXX cho ông Nguyễn Khắc T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 bao hạt tiêu khô trọng lượng 40kg cho ông Y T;

Sau khi nhận lại tài sản, ông Y T và ông Cao Ngọc T không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm;

Ông Lê Quang H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000đ đã bỏ ra mua tài sản do bị cáo bán; do đó cần truy thu của bị cáo 1.000.000đ tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước;

Ông Y K yêu cầu bị cáo Lê Anh V phải bồi thường số tiền 2.500.000 đồng;

Bị cáo Lê Anh V không bào chữa, không tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng;

Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Vào khoảng 11 giờ ngày 03/12/2022, tại B, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Lê Anh V đã có hành vi lén lút trộm cắp của ông Y T 01 bao hạt tiêu khô trọng lượng 40k, trị giá 2.300.000 đồng; lén lút trộm cắp của ông Y K 01 máy cưa lốc nhãn hiệu Katsu 2900, không có lưỡi cưa; 01 máy cắt cỏ, hiệu Husqvarna 143RII; 01 máy mài tay, hiệu Makita, có trị giá là 2.500.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ ngày 11/12/2022, tại số nhà 80, xã E , thành phố B, Lê Anh V tiếp tục có hành vi lén lút trộm cắp của ông Cao Ngọc T 01 máy hàn điện, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA- 200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE; 01 cuộn dây điện, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm, có trị giá 4.160.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Lê Anh V trộm cắp của các bị hại là 8.960.000 đồng. Sau đó hành vi của bị cáo bị phát hiện, xử lý;

Như vậy hành vi bị cáo Lê Anh V thực hiện đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

…”.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an của xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, hiện có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản của người bị hại với tổng giá trị tài sản là 8.960.000 đồng; do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội;

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi một phần trả lại cho người bị hại; do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;

Trong vụ án này, bà Nguyễn Thị Lệ H thấy bị cáo V mang về nhà cất 01 cuộn dây điện; ông Lê Quang H có hành vi mua các tài sản do bị cáo Vũ trộm cắp được của ông Cao Ngọc T; tuy nhiên bà H, ông H không biết các tài sản này do V phạm tội mà có; do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý;

Ông Nguyễn Khắc T có hành vi cho bị cáo V mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số XXX để đi kiếm việc làm; ông T không biết việc bị cáo V sử dụng chiếc xe mô tô này để đi trộm cắp tài sản do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý;

Đối với với người đàn ông có hành vi mua 01 máy cắt cỏ, hiệu Husqvarna 143RII, màu Đỏ; 01 máy mài tay, hiệu Makita, màu: Xanh – đen do bị cáo trộm cắp được của ông Y K và người bán ma túy cho Lê Anh V sử dụng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột chưa xác định rõ nhân thân lai lịch nên đã tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau;

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Anh V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021;

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, người bị hại ông Y T và ông Cao Ngọc T đã nhận lại tài sản; không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000đ đã bỏ ra mua tài sản do bị cáo bán;

Người bị hại ông Y K yêu cầu bị cáo Lê Anh V phải bồi thường cho ông số tiền 2.500.000 đồng là trị giá tài sản bị cáo trộm cắp nhưng không thu hồi được; do đó cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Y K số tiền 2.500.000 đồng;

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả 01 máy hàn điện, màu đỏ, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA-200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita, màu xanh; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE, màu xanh; 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2cx2.5, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm cho ông Cao Ngọc T; Trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số XXX cho ông Nguyễn Khắc T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 bao hạt tiêu khô trọng lượng 40kg cho ông Y T nhận quản lý, sử dụng;

Cần truy thu của bị cáo 1.000.000đ tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Anh V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Anh V 02 (Hai) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 12/12/2022;

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận việc người bị hại ông Y T và ông Cao Ngọc T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000đ đã bỏ ra mua tài sản do bị cáo bán;

Buộc bị cáo Lê Anh V bồi thường cho người bị hại ông Y K số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng);

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả giao trả 01 máy hàn điện, màu đỏ, trên thân máy có dòng chữ DWTMMA-200DL, WWW DWT-PTCOM; 01 máy hàn điện, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, trên thân máy có dòng chữ WS Weldership ARC 200S; 01 máy mài tay, nhãn hiệu Makita, màu xanh; 01 máy khoan, nhãn hiệu BOSCH GBH 2-26 DRE, màu xanh; 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2cx2.5, dài 28m, một đầu có phích cắm, một đầu có ổ cắm cho ông Cao Ngọc T; Trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số XXX cho ông Nguyễn Khắc T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 bao hạt tiêu khô trọng lượng 40kg cho ông Y T nhận quản lý, sử dụng;

Truy thu của bị cáo Lê Anh V 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước;

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Anh V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm);

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ