- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Lợi cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự và chỉ xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 100/2023/HS-ST Ngày: 28/09/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ Với
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Minh Khôi. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trường và bà Hoàng Thị Tuyết Nhung. Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Thắng - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2023/TLST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023, đối với bị cáo: Trần Hữu L, sinh ngày 02/6/1999 tại Bình Định; nơi đăng ký HKTT: Xóm Y, thôn C, xã Ph, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố M, phường X, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất 6; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2023 đến nay. - Bị hại: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1998; nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (chết). - Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh T: Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1961 và bà Lê Thị D, sinh năm 1961 (là cha, mẹ đẻ anh T); cùng địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp - Vắng mặt. - Người làm chứng: + Anh Nguyễn Văn Q, sinh ngày 06/7/2001; địa chỉ: Thôn L, xã Th, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt. + Anh Hoàng Văn K, sinh ngày 30/12/1994; địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội - Vắng mặt. + Anh Võ Thành M, sinh ngày 22/11/1995; địa chỉ: Thôn L, xã Ph, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định - Vắng mặt.
+ Anh Lê Quốc Ng, sinh ngày 20/02/2002; địa chỉ: Ấp S, xã H, huyện C, tỉnh Cần Thơ - Vắng mặt. + Anh Ngô Đình S, sinh ngày 07/3/1998; địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam - Vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 30/4/2023, sau khi ngồi nhậu với nhau tại phòng trọ số 09 đường Thân Nhân Trung (thuộc khu phố 1, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà), anh Nguyễn Thanh T (nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp) và anh Nguyễn Văn Q (nơi ĐKHKT: Thôn L, xã Th, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa), là công nhân của dự án Vincom Quảng Trị cùng nhau đến phòng trọ số 01 tại số 26 đường Hà Huy Tập (thuộc khu phố M, phường L, thành phố Đ) tìm gặp Hoàng Văn K (nơi ĐKHKT: Thôn Th, xã Th, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) để đòi nợ số tiền 300.000 đồng. Khi đến, T và Q gặp K đang ngồi nhậu cùng Trần Hữu L, Võ Thành M (nơi ĐKHKTT: Thôn Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định), Lê Quốc Ng (nơi ĐKHKTT: Ấp 6, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, tỉnh Cần Thơ) và Ngô Đình S (nơi ĐKHKTT: Thôn An Mỹ, xã Bình Anh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), là công nhân của dự án Vincom Quảng Trị nên cùng vào tham gia. Một lúc sau, T và Q gọi K ra ngoài để đòi nợ thì xảy ra xâu ẩu, đánh nhau. K dùng tay đánh vào vùng mắt trái của T gây thương tích rách da chảy máu, thấy vậy M và L chạy ra can ngăn. L kéo T, còn M ôm giữ Q. Lúc này, T xông đến để tiếp tục đánh K thì L dùng chân đạp vào người T khiến T bị ngã ngửa ra mặt đường, đập đầu xuống đất và bất tỉnh. Ngay sau đó, M và Q đưa T đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng để cấp cứu. Sau khi được sơ cứu vết thương rách da ở vùng mày trái, T không đồng ý chụp cắt lớp vùng sọ để kiểm tra theo chỉ định của bác sỹ mà đòi về nghỉ ngơi tại phòng trọ (số 09 đường Thân Nhân Trung thuộc, khu phố 1, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà) nên Q và M đưa T về nghỉ. Đến khoảng 07 giờ ngày 01/5/2023, Nguyễn Thanh T bị tử vong tại phòng trọ. Sau khi biết T tử vong, Trần Hữu L đã đến Công an thành phố Đông Hà tự thú về hành vi của mình. Tại bản Kết luận giám định số 447/KL-KTHS ngày 08/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Thanh T do chấn thương sọ não. Tại bản Kết luận giám định số 140/KLTgTHS-TTPY ngày 17/5/2023 của Trung T pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thanh T qua hồ sơ là 03%. Cáo trạng số: 93/CT-VKSĐH ngày 12/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Hữu L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu L từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội ‘Cố ý gây thương tích”. - Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét. - Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI 1: 860630068448524, số IMEI 2: 860630068448532, có 02 số thuê bao 0339224177 và 0383099215 cho bị cáo L. 5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Trần Hữu L trình bày lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và rất hối hận về hành vi phạm tội của minh. Nay bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tranh tụng công khai tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Do có mâu thuẩn trong việc đòi lại số tiền 300.000 đồng mà K còn nợ “anh Vẹo” nên giữa anh T, anh Q và anh K hai bên xâu ẩu, đánh nhau. Thấy vậy, anh M và L chạy đến can ngăn. L kéo anh T ra, còn M ôm giữ anh Q. Nhưng lúc này, do anh T vẫn cứ cố lao vào tiếp tục xâu ẩn, đánh anh K nên L đã dùng chân trái đạp trúng vào người anh T, làm cho anh T bị ngã ngửa ra mặt đường, đập đầu xuống đất và bất tỉnh. Hậu quả, anh T bị bầm tím da đầu vùng đỉnh thái dương chẩm phải; tụ máu màng cứng vùng thái dương; tụ máu dưới màng cứng và dập não vùng trán thái dương phải, dẫn đến bị chết do chấn thương sọ não. Tuy bị cáo L có hành vi cố ý gây thương tích đạp vào người anh T, nhưng bị cáo L không thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người, việc anh T bị chấn thương so não và chết là ngoài sự mong muốn của bị cáo L. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Trần Hữu L về tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến chết người theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi trên của bị cáo Trần Hữu L là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tính mạng của bị hại anh Nguyễn Thanh T, gây mất trật tự, trị an làm ảnh
hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sống trên địa bàn. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, góp phần giữ gìn trật tự trị an xảy ra trên địa bàn. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo L đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an thành phố Đông Hà để tự thú về hành vi phạm tội của mình và tác động với gia đình bồi thường đầy đủ cho đại diện hợp pháp của bị hại nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo hiện là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình cũng có khó khăn bố mẹ đều đã mất. Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần áp dụng thêm điều 54 của Bộ luật hình sự và chỉ xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với Hoàng Văn K đã có hành vi dùng tay đấm vào vùng mặt của anh Nguyễn Thanh T gây thương tích 03%, do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà chỉ xử phạt vi phạm hành chính đối với K là đúng pháp luật nên không xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại và gia đình của bị cáo đã tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, gia đình bị hại đã bồi thường đầy đủ. Nay đại diện hợp pháp của bị hai không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Công an thành phố Đông Hà tạm giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI 1: 860630068448524, số IMEI 2: 860630068448532 và có 02 số thuê bao 0339224177 và 0383099215 của bị cáo L và 01 áo sơ mi Nam dài tay, màu trắng xanh của bị hại Nguyễn Thanh T. Đối với 01 áo sơ mi Nam dài tay, màu trắng xanh, Công an thành phố Đông Hà đã trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Thanh X là đúng pháp luật nên không xem xét. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI 1: 860630068448524, số IMEI 2: 860630068448532, có 02 số thuê bao 0339224177 và 0383099215, đây là tài sản của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạp tội nên trả lại cho bị cáo. - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s, r khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu L 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 01/5/2023. 3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Hữu L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, màu xanh, số IMEI 1: 860630068448524, số IMEI 2: 860630068448532, có gắn số thuê bao 0339224177 và 0383099215. Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/9/2023, giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. 4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Hữu L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thấm.
Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND thành phố Đông Hà; - Công an thành phố Đông Hà; - THA hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Chi cục thi hành án dân sự TP Đông Hà; - Bị cáo, đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HC. Tạ Minh Khôi | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |