- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kiên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 áo phông ngắn tay màu trắng đen, 01 quần đùi màu đen, 01 áo dài tay màu xám, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép màu đen (Tình trạng vật chứng thể hiện tại b…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HS-ST Ngày 22-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Dung
Ông Bùi Xuân Quảng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (Điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Công an thành phố Hải Phòng) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Bùi Thị H; có vợ là Lưu Thị T (đã ly hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 01 tiền án đã được xóa án tích tại bản án hình sự sơ thẩm số 105/2011/HSST ngày 22/7/2011 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn K 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 tiền sự đã được xóa do Công an phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản ngày 31/5/2011; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06 tháng 7 năm 2023; có mặt.
- Bị hại: Anh Lô Văn Q, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn Kiều Trung, xã Hồng Thái, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 17/5/2023, Nguyễn Văn K mượn chiếc xe mô tô BKS 15B3-716.02 của anh Trịnh Xuân M, sinh năm 1978, trú tại khu đô thị V, phường M, Quận L, Hải Phòng để đi đến khu nhà trọ của chị Vũ Thị Tuyết M, sinh năm 1985, ở thôn K, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng mục đích tìm người quen. Khi đến nơi, K thấy một phòng trọ đang mở hé cửa nên đi vào thì thấy anh Lô Văn Q đang nằm ngủ, ở phía đầu giường gần cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đang cắm sạc, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 chiếc ví da màu đen nên K nảy sinh ý định lấy trộm. K đi ra phía ngoài quan sát thấy không có ai nên quay lại lấy 02 chiếc điện thoại và chiếc ví da cho vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khi đi đến khu vực ngã tư Quang Trung thuộc huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, K dừng lại để tháo thẻ sim trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vứt ở rìa đường rồi tắt nguồn 02 chiếc điện thoại di động; kiểm tra trong ví da có số tiền 945.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân, K lấy tiền trong ví cho vào túi quần rồi để 02 chiếc điện thoại và chiếc ví da vào trong cốp xe mô tô. Sau đó, K đi về phòng trọ ở phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đang làm việc tại quán bia hơi Hải Phòng ở khu vực chân cầu vượt BigC thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, K nghe thấy có người hỏi về chiếc xe mô tô mà K đã sử dụng để đi buổi sáng nên nghĩ Công an đã phát hiện ra. K đi taxi của anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1987, trú tại số 6/50 Phương Lưu 1, phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng quay lại phòng trọ của anh Q để trả lại tài sản. Tại đây, K gặp chị Lang Thị H, sinh năm 2003, trú tại bản M, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An là bạn gái của anh Q, K đã trả chị H 02 chiếc điện thoại đi động và 01 chiếc ví da rồi đến Công an xã Hồng Thái, huyện An Dương tự thú. Cơ quan Công an đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 9 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5 màu xanh, 01 ví da màu đen do chị Lang Thị H giao nộp; số tiền 75.000 đồng do anh Nguyễn Đức L giao nộp; 01 áo phông ngắn tay màu trắng đen, 01 quần đùi màu đen, 01 áo sơ mi dài tay màu xám, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép màu đen (trang phục K mặc khi trộm cắp tài sản) và số tiền 870.000 đồng do Nguyễn Văn K giao nộp.
Tại Kết L định giá tài sản số 39 ngày 26/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Dương kết L: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi note 9 pro, màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 10.990.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno5 màu xanh đã qua sử dụng có giá trị 1.800.000 đồng; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng giá trị: 90.000 đồng, tổng cộng là 12.880.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Lô Văn Q vào lúc 07 giờ ngày 17/5/2023 như nội dung nêu trên. Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông ngắn tay màu trắng đen, 01 quần đùi màu đen, 01 áo tay màu xám, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép màu đen. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với kết L định giá tài sản cũng như với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết L: Vào lúc 07 giờ ngày 17/5/2023 tại nhà trọ của anh Lô Văn Q ở thôn K, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Văn K đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi note 9 pro màu trắng trị giá 10.990.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno5 màu xanh trị giá 1.800.000đồng, 01 ví da màu đen trị giá 90.000 đồng của anh Lô Văn Q và số tiền 945.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh Q là 13.825.000 đồng. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 13.825.000 đồng của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 của Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo tự thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Ngoài lần phạm tội này bị cáo còn có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích và một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa, chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét tính chất hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sụng là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Đối với 01 áo phông ngắn tay màu trắng đen, 01 quần đùi màu đen, 01 áo dài tay màu xám, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép màu đen là tài sản của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại và giá trị tài sản nhỏ nên tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Trịnh Xuân M không biết việc Nguyễn Văn K mượn xe mô tô để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương không xem xét xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo Nguyễn Văn K tính từ ngày 06 tháng 7 năm 2023.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 áo phông ngắn tay màu trắng đen, 01 quần đùi màu đen, 01 áo dài tay màu xám, 01 quần dài màu xám, 01 đôi dép màu đen (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương và Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện An Dương).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ban hành quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng; - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |