- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Thị L - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU TỈNH LC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HS-ST Ngày: 25-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Sa
Bà Hoàng Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh LC tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Thị L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1991 tại huyện TY, tỉnh LC;
Nơi cư trú: Bản T, xã HM, huyện TY, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A L, sinh năm 1968 và bà Thào Thị D, sinh năm 1969; Bị cáo có chồng là Thào A D, sinh năm 1990 và có 06 con; Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án, cụ thể: Ngày 18/6/2021, Vàng Thị L bị Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bị cáo đang được hoãn chấp hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi). Hiện chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2023 tại xã HM, huyện TY, tỉnh LC. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vàng Thị L là người nghiện chất ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 03/4/2023, Vàng Thị Liên đi nhờ xe mô tô của một người (không rõ lai lịch) từ bản Thào, xã HM, huyện TY, tỉnh LC xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU, tỉnh LC để tìm mua Heroine sử dụng. Tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, Vàng Thị L gặp và mua được của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 03 gói Heroine với giá 500.000 đồng (cả ba gói Heroine đều được gói bằng các mảnh nilon màu xanh và được gói chung lại bằng 01 mảnh nilon màu xanh khác). Sau khi mua được Heroine, Vàng Thị L cất giấu vào bên trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi quay về thì bị lực lượng Công an huyện TU phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Vàng Thị L là 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 03 gói Heroine đều gói bằng các mảnh nilon màu xanh.
Tại bản Kết luận giám định số 47/KLGĐ ngày 03/4/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Tổng 03 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Thị L có khối lượng là 0,86 gam. Tại bản Kết luận giám định số 409/GĐ-KTHS ngày 08/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma tuý và tiền chất.
Ngày 10/4/2023, Vàng Thị L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,86 gam Heroine thu giữ của Vàng Thị L, (đã trích 0,35 gam gửi giám định, còn lại 0,51 gam); 04 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Số vật chứng còn lại hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC.
Bản cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tỉnh LC truy tố bị cáo Vàng Thị L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh LC giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Thị L từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 87/2021/HS-ST của Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xử phạt Vàng Thị L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,51 gam Heroine, 04 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị L khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ, ngày 03/4/2023, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU, tỉnh LC, Vàng Thị L đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng từ một người phụ nữ không rõ lai lịch mục đích để sử dụng dần. Sau khi mua được Heroine, Vàng Thị L cất giấu vào bên trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi quay về thì bị lực lượng Công an huyện TU phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của Vàng Thị L là 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 03 gói Heroine đều gói bằng các mảnh nilon màu xanh có tổng khối lượng 0,86 gam.
Ngày 10/4/2023, Vàng Thị L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Vàng Thị L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,86 gam Heroine, mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Vàng Thị L sinh ra tại huyện TU, tỉnh LC, bị cáo không được đi học, không biết chữ. Bị cáo là phụ nữ nhưng đã không làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình, làm gương cho các con mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 đã bị Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hiện chưa chấp hành án, chưa được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho thấy thái độ không chấp hành pháp luật của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Thị L phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích, do đó bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo; Bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tịch thu một phần hoặc tài bộ tài sản đối với bị cáo Vàng Thị L.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng còn lại của vụ án là 0,51 gam Heroine là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ; đối với 04 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các vấn liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Vàng Thị L khai mua của một người không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 56 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 87/2021/HS-ST của Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xử phạt Vàng Thị L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, khấu trừ thời hạn tạm giữ cho bị cáo 06 (Sáu) ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 (Ba) năm 11 (Mười một) tháng 24 (Hai mươi tư) ngày.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vàng Thị L.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong chứa đựng 0,51 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện TU bên trong đựng 04 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Vàng Thị L 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh LC; - VKSND tỉnh LC; - Sở tư pháp tỉnh LC; - VKSND huyện TU; - Chi cục THADS TU; - CQĐT, CQTHAHS huyện TU; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |