vanban.org

Bản án 100/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo củ bị cáo Đặng Thị Ngọc L.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 củ Tòa án nhân dân huyện T, t nh Tây Ninh. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Thị Ngọc L phải chịu 200.000 (h i trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo củ bị cáo Đặng Thị Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HS-PT
Ngày: 17-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyền.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;

Bà Nguyễn Thị An Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Nguyệt Ánh - Thư T án nhân dân t nh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 87/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Thị Ngọc L, do có kháng cáo củ bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 31-5-2023 củ Tòa án nhân dân huyện T, t nh Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo:

Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1967, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng

hộ hẩu thường trú: Ấp Th, xã Th, huyện T, t nh Tây Ninh; nghề nghiệp: L o động tự do; trình độ văn hó : 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chồng tên Huỳnh Văn C, con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1996; con ông Đặng Thế N (đã chết) và bà Trần Thị Tr (đã chết); tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên t .

Bị hại: Bà Hà Thị L, sinh năm 1968; cư trú tại: Khu phố X, thị trấn T, huyện T, t nh Tây Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hoảng giữ tháng 02-2023, bà Hà Thị L, sinh năm 1968, ngụ: khu phố X, thị trấn T, huyện T, t nh Tây Ninh, thuê Đặng Thị Ngọc L phụ giúp việc nhà đư đón cháu nội củ bà L tên Nguyễn Hữu Ph, sinh năm 2014 đi học. Trong thời gi n phụ giúp việc nhà, L1 biết bà L thường xuyên để tiền trong túi xách để trên ét sắt trong ph ng ngủ tầng 1 nhà củ bà L nên L1 nảy sinh định trộm cắp tiền củ bà L. Vào hoảng 05 giờ ngày 17-3-2023, L1 đến làm việc dọn dẹp vệ sinh cho nhà bà L, trong lúc dọn dẹp vệ sinh tại ph ng ngủ thấy bà L không có trong phòng nên L1 mở túi xách củ bà L thấy bên trong có xấp tiền với nhiều mệnh giá hác nh u từ 10.000 đồng đến 500.000 đồng, L1 lấy trộm 22 tờ tiền Polymer có mệnh giá 500.000 đồng (11.000.000 đồng) rồi éo ngăn éo túi xách lại. S u hi lấy trộm tiền, L1 m ng xuống nhà bếp giấu vào ngăn éo tủ trong nhà bếp chờ hi đư cháu Phước đi học thì lấy m ng về nhà.

Đến hoảng 06 giờ cùng ngày, bà L phát hiện mình bị mất tiền nên kêu cháu Phước thức dậy và hỏi “Phước có lấy tiền hông”, cháu Phước nói “Không có lấy”. Lúc này, do sợ bị phát hiện nên L1 lấy số tiền đã trộm cắp để vào quyển vở bên trong b lô đựng tập vở đi học củ cháu Phước, s u đó giả vờ cùng bà L truy tìm số tiền đã mất và phát hiện trong b lô đi học củ cháu Phước nên lấy đư lại cho bà L. Đến ngày 20-3-2023, s u hi cho xem hình ảnh c mer trong nhà bà L thì L1 thừ nhận đã lấy trộm số tiền 11.000.000 đồng củ bà L nên bà L đến trình báo Công n xử l .

Tại Cơ qu n Cảnh sát điều tr Công n huyện T, t nh Tây Ninh Đặng Thị Ngọc L đã thừ nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hà Thị L đã nhận lại tài sản bị mất trộm là số tiền 11.000.000 đồng, hông yêu cầu bị cáo Đặng Thị Ngọc L phải bồi thường gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 31-5-2023 củ Tòa án nhân dân huyện T, t nh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ hoản 1 Điều 173; điểm i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 củ Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Ngọc L 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm c n tuyên về án phí và quyền háng cáo theo quy định củ pháp luật.

Ngày 31/5/2023, bị cáo Đặng Thị Ngọc L có đơn háng cáo, yêu cầu T án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo để có điều iện chữ bệnh hiểm nghèo.

Tại phiên t phúc thẩm, bị cáo L1 giữ nguyên yêu cầu háng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo bị bệnh tim, bệnh tiểu đường.

Trong phần tr nh luận, đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Tây Ninh đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu háng cáo củ bị cáo Đặng Thị Ngọc L, giữ nguyên bản án sơ thẩm củ T án nhân dân huyện T, t nh Tây Ninh.

Lời nói s u cùng củ bị cáo: Không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định củ cơ qu n tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng củ cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định củ Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên t phúc thẩm, bị cáo Đặng Thị Ngọc L xác định trong quá trình điều tr , truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định củ cơ qu n tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, về các hành vi, quyết định củ cơ qu n tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/5/2023 bị cáo Đặng Thị Ngọc L có đơn háng cáo. Đơn háng cáo củ bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 332, Điều 333 củ Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, háng cáo củ bị cáo là hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội d nh: Tại phiên t phúc thẩm bị cáo Đặng Thị Ngọc L thừ nhận lợi dụng lúc bà L không có trong phòng nên bị cáo đã lấy trộm tiền củ bà L để trong túi xách. Bị cáo xác định T án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, hông bị o n.

Xét lời nhận tội củ bị cáo phù hợp với lời h i củ bị cáo cùng với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ ết luận bị cáo đã trộm củ bà L số tiền 11.000.000 đồng.

Xét yêu cầu háng cáo củ bị cáo L1 xin được hưởng án treo, thấy rằng:

Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 31-5-2023 củ Tòa án nhân dân huyện T xét xử bị cáo Đặng Thị Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được áp dụng theo quy định tại hoản 1 Điều 173 củ Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội củ bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản củ người hác. Nhưng vì lợi ích cá nhân nên bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản củ bà L, thể hiện thái độ xem thường pháp luật củ bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, T án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 củ Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 06 tháng (sáu) tù về tội “Trộm cắp tài sản” là tương xứng với hành vi, tính chất và mức độ phạm tội củ bị cáo đã gây ra.

Tại phiên t sơ thẩm bị cáo h i bị cáo sống tại nhà trọ ở xã Th, huyện T; tại phiên t phúc thẩm hôm n y bị cáo h i hiện n y bị cáo ở đậu nhà người chị. Như vậy, bị cáo hông có nơi cư trú ổn định nên hông đủ điều iện xem xét cho hưởng án treo. Ngoài r , bị cáo cho rằng bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, bệnh tim, tiểu đường nhưng hông cung cấp được chứng cứ mới chứng minh đ ng điều trị bệnh. Do đó, háng cáo củ bị cáo là hông có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên hình phạt như bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, hông chấp nhận yêu cầu háng cáo củ bị cáo. Chấp nhận đề nghị củ Kiểm sát viên giữ nguyên bản án sơ thẩm số 50/2023/HS-ST ngày 31-5-2023 củ T án nhân dân huyện T, t nh Tây Ninh.

Về án phí phúc thẩm: Do bị cáo háng cáo hông được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b hoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củ Ủy b n thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T án.

Các quyết định hác củ bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a hoản 1, hoản 2 Điều 355 củ Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo củ bị cáo Đặng Thị Ngọc L.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2023/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 củ Tòa án nhân dân huyện T, t nh Tây Ninh.

Căn cứ hoản 1 Điều 173; điểm i, s, hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 38 củ Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Ngọc L 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Thị Ngọc L phải chịu 200.000 (h i trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định hác củ bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ