- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị Huyền Tr - Nguyễn Hồ Quốc Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Thái Thị Huyền Trân.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG ——————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST Ngày 18-4-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Ông Kim Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sơn Thanh Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị Huyền Trân, sinh năm 1988.
Địa chỉ: khu vực 2, phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồ Quốc Quang, sinh năm 1981.
Địa chỉ: khu vực 2, phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/9/2022 và trong quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn bà Thái Thị Huyền Trân trình bày:
Bà Thái Thị Huyền Trân và ông Hồ Quốc Quang kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu hôn nhân vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp nên đã ly thân được khoảng 09 năm nay.
Về con chung: vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên Kim, sinh ngày 31/10/2009, giới tính: Nữ, từ trước đến nay sống chung với mẹ.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bà Thái Thị Huyền Trân khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: bà Trân yêu cầu được ly hôn với ông Quang.
Về con chung: bà Trân yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không yêu cầu ông Quang cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ Quốc Quang: tính từ lúc Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, chưa một lần chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng chưa thể hiện ý kiến bằng văn bản đối với nội dung tranh chấp trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn ông Nguyễn Hồ Quốc Quang có địa chỉ cư trú tại khu vực 2, phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: nguyên đơn bà Thái Thị Huyền Trân vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hồ Quốc Quang đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: bà Thái Thị Huyền Trân và ông Nguyễn Hồ Quốc Quang kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của bà Trân và ông Quang được công nhận là hợp pháp. Thời gian đầu hôn nhân vợ chồng chung sống hạnh phúc và có một con chung, nhưng sau đó do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp nên đã ly thân được khoảng 09 năm nay. Ông Quang dù biết việc bà Trân khởi kiện xin ly hôn, nhưng ông Quang không một lần đến Tòa án để thể hiện ý kiến, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của mình. Từ đó cho thấy, hôn nhân của bà Trân và ông Quang đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho bà Trân được ly hôn với ông Quang.
Về con chung: quá trình chung sống bà Trân và ông Quang có một con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên Kim, sinh ngày 31/10/2009, giới tính: Nữ, bà Trân có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Tòa án xét thấy: từ trước đến nay cháu Kim sống chung với bà Trân đã ổn định, nguyện vọng của cháu Kim là muốn được sống chung với mẹ sau khi cha, mẹ ly hôn. Bà Trân có nghề nghiệp và thu nhập tương đối ổn định, đủ khả năng về tài chính để nuôi dưỡng cháu Kim. Sau khi cân nhắc việc đảm bảo quyền lợi cho cháu Kim về các mặt vật chất, tình cảm và giáo dục, đồng thời tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu sau khi cha, mẹ ly hôn. Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án quyết định giao cháu Kim cho bà Trân trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Đảm bảo quyền được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Quang, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: ông Quang chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung do bà Trân chưa yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có tranh chấp, vì vậy Tòa án không xem xét.
Về án phí: căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Thái Thị Huyền Trân. Bà Thái Thị Huyền Trân được ly hôn với ông Nguyễn Hồ Quốc Quang.
2. Về con chung: sau khi ly hôn, bà Thái Thị Huyền Trân được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Thiên Kim, sinh ngày 31/10/2009, giới tính: Nữ. Ông Nguyễn Hồ Quốc Quang có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: ông Nguyễn Hồ Quốc Quang chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung do bà Thái Thị Huyền Trân chưa yêu cầu.
4. Về án phí: bà Thái Thị Huyền Trân phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001759 ngày 18/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
5. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Vị Thanh; - Cơ quan THADS TP. Vị Thanh; - UBND phường V; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Bằng |