vanban.org

Bản án 100/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Độc-Đỗ Thị Quyên"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Trịnh Hoàng Thám.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 118/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978 (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Q, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 8, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Năm 2002 ông và bà Đỗ Thị Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, không có sự tôn trọng, nhường nhịn nhau, nên thường xuyên bất đồng ý kiến và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 đến nay. Nay ông nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Đỗ Thị Q; Về con chung, có 03 người con chung tên Nguyễn Băng Tâm, sinh năm 2002; Nguyễn Thuý Huỳnh, sinh ngày 16/3/2006 và Nguyễn Huỳnh Tim, sinh ngày 15/6/2008. Khi ly hôn con có nguyện vọng sống với ông thì ông đồng ý nuôi dưỡng và không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con. Riêng người con chung tên Nguyễn Băng Tâm đã trên 18 tuổi nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, ông Đ có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

* Đối với bị đơn bà Đỗ Thị Q, Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, xét xử nhưng bà Q vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của ông Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bà Đỗ Thị Q, địa chỉ ấp 8, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Q vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Đ và bà Q.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ với bà Q tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa ông Đ với bà Q là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Ông Đ yêu cầu ly hôn vì vợ chồng chung sống luôn bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 đến nay. Bà Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập tham gia phiên hòa giải, nhưng bà Q không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của ông Đ. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa ông Đ với bà Q đã trầm trọng, quan hệ hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho ông Đ với bà Q ly hôn với nhau.

Về con chung: Xét thấy người 02 con chung tên Nguyễn Thuý Huỳnh, Nguyễn Huỳnh Tim hiện đang sống chung với ông Đ và Nguyễn Thuý Huỳnh, Nguyễn Huỳnh Tim có nguyện vọng sống chung với ông Đ. Mặt khác, bà Q đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của ông Đ. Do đó, để đảm bảo cho con chung phát triển ổn định về mặt tâm sinh lý nên Hội đồng xét xử giao 02 người con chung tên Nguyễn Thuý Huỳnh, Nguyễn Huỳnh Tim cho ông Đ tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Riêng người con chung tên Nguyễn Băng Tâm đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Q không có ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này các bên có xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Văn Đ phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Đ với bà Đỗ Thị Q.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Nguyễn Thuý Huỳnh, sinh ngày 16/3/2006 và Nguyễn Huỳnh Tim, sinh ngày 15/6/2008 cho ông Nguyễn Văn Đ tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đỗ Thị Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Văn Đ phải nộp số tiền 300.000 đồng, ngày 17 tháng 4 năm 2023 ông Đ đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011112 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn Đ, bà Đỗ Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ