vanban.org

Bản án 100/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ …

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Nh được ly hôn với anh Nguyễn Thế H. Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ …
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 100/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 6 năm 2023
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNhuyện Tc, tỉnh NA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phương Phú.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.

Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng - Thư ký Toà án nhân dânhuyện Tc, tỉnh NA.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Tc, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 49/ 2023/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Nh, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Thôn Thanh Đồng 5, xã TĐ,huyện Tc, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thế H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn Thanh Đồng 1, xã TĐ,huyện Tc, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Nh trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thế H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TĐ,huyện Tc, tỉnh NA vào ngày 21 tháng 02 năm 2020.

Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn, sinh sống tại Thôn Thanh Đồng 1, xã TĐ,huyện Tc, tỉnh NA. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc cho đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và cũng kể từ đó vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với anh Nguyễn Thế H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Hiện nay vợ chồng không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.

Ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Thế H: Trong quá trình giải quyết vụ án anh đều cố tình vắng mặt. Nhưng trong văn bản gửi Tòa án anh thừa nhận điều kiện kết hôn đúng như chị Trần Thị Nh đã trình bày. Nhưng anh cho rằng tình cảm vợ chồng hiện nay đang còn nên nguyện vọng của anh muốn đoàn tụ.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng chưa con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Tc, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Nh được ly hôn với anh Nguyễn Thế H.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Trần Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã TĐ,huyện Tc, tỉnh NA. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dânhuyện Tc, tỉnh NA.

Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bị đơn anh Nguyễn Thế H đã nhận được các văn bản tố tụng nhưng đều cố tình vắng mặt. Cho nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt. Nhưng nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, còn sự vắng mặt của bị đơn không có lý do chính đáng, đây là phiên tòa mở lại lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng cho nên Hội đồng xét xử xét thấy việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Chị Trần Thị Nh và anh Nguyễn Thế H kết hôn với nhau hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TĐ, huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay chị Trần Thị Nh xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên có nguyện vọng được ly hôn với anh Nguyễn Thế H. Anh Nguyễn Thế H mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh đều cố tình vắng mặt. Điều đó cũng thể hiện việc anh không xem trọng mối quan hệ hôn nhân này. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì chỉ là hình thức chứ mục đích hôn nhân không đạt được cho nên cần chấp nhận cho chị Trần Thị Nh được ly hôn với anh Nguyễn Thế H là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng không có con chung.

Về phân chia tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Tc, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Nh được ly hôn với anh Nguyễn Thế H.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng không có con chung.

Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét

Về án phí: Buộc chị Trần Thị Nh phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009355 ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sựhuyện Tc, tỉnh NA. Chị Trần Thị Nh đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ