vanban.org

Bản án 100/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Quốc L được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/10/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Thanh T1, sinh ngày 19/01/2018 cho anh Trần Quốc L trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh L và chị T có quyền thăm nom con chung không ai được c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Quốc L được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-09 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Đình Tâm

2. Ông Quách Hà Vính

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Nhung- Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2023/QĐST – HNGĐ ngày 08/9/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Quốc L - Sinh năm: 1980

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T- Sinh năm: 1981

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa..

Tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Quốc L và chị Nguyễn Thị T (Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T vắng mặt lần thứ 2 không có lí do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Quốc L trình bày:

-Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 11 năm 2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống với nhau được một thời gian hạnh phúc, hòa thuận thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm sống dẫn đến bất hòa kéo dài. Vợ, chồng đã sống ly thân. Đến nay anh xác định tình cảm với chị T không còn , hạnh phúc đã tan vỡ nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.

-Về con chung: Vợ chồng 02 con chung là cháu Trần Thanh T1, sinh ngày 19/01/2018 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/10/2020. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 cháu Trần Thanh T1 và Trần Bảo N, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

- Về tài sản chung: Anh L không yêu cầu Tòa giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

-Về hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc L đăng ký kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 11 năm 2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn hạnh phúc, hòa thuận thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ, chồng không hòa hợp. Tuy nhiên do con gái đầu của vợ, chồng mới mất, chị cũng không muốn các con thiệt thòi khi bố mẹ ly hôn. Do đó chị không đồng ý ly hôn với anh L đề nghị Tòa án hòa giải để vợ, chồng đoàn tụ nuôi con.

-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Thanh T1, sinh ngày 19/01/2018 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/10/2020. Nếu vợ chồng phải ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N còn giao cháu T1 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản: Do chị không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho anh Trần Quốc L được ly hôn chị Nguyễn Thị T; Về con chung: Giao cháu Trần Thanh T1 cho anh Trần Quốc L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trần Bảo N cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Về án phí: Anh Trần Quốc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Về tố tụng: Anh Trần Quốc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T. Chị T cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng Viện kiểm sát được biết.

. Về hôn nhân: Anh Trần Quốc L và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn ngày 30/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Việc đăng ký kết hôn của anh L và chị T là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì vợ, chồng sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ, chồng nay đã sống ly thân với nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ, chồng giữa anh L và chị T đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nên căn cứ điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh L được ly hôn chị T.

. Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Trần Thanh T1, sinh ngày 19/01/2018 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/10/2020. Ly hôn anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 cháu Thanh T1 và Bảo N, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N còn giao cháu T1 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Xét yêu cầu của anh L và chị T là chính đáng và hợp pháp. HĐXX xét thấy cháu N hiện nay đang còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, nên giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp.

. Về tài sản, công nợ chung: Anh L và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Quốc L được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 16/10/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Thanh T1, sinh ngày 19/01/2018 cho anh Trần Quốc L trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh L và chị T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Trần Quốc L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0008083 ngày 20/6/2023. Anh L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt anh Trần Quốc L, chị Nguyễn Thị T. Anh L và chị T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ