- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Trần Như Q, bị đơn ông Trần Phú Q1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Trần Như Q ly hôn ông Trần Phú Q1.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-9-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Di
2. Bà Nguyễn Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 243/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Như Q, sinh năm 1996; (có mặt)
Địa chỉ: Tổ C Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Trần Phú Q1 sinh năm 1990; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2023; bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Trần Như Q trình bày:
Về hôn nhân: Bà Q và ông Q1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 295, ngày 17/11/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại tổ D Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Nguyên nhân từ những vấn đề liên quan đến tình cảm, kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình không có sự chia sẻ, đồng cảm với nhau, cả hai không thể giải quyết dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống hai bên. Đã nhiều lần nhờ gia đình hai bên cũng như phường xã can thiệp nhưng không giải quyết được. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 2/2023 cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không không còn tình cảm với nhau nên bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Q1.
Về con chung: Bà Q và ông Q1 có 02 con chung tên Trần Như Ý, sinh ngày 30/5/2017 và Trần Duy K, sinh ngày 02/5/2019. Hiện cháu Ý đang ở với ông Q1, cháu K đang ở với bà Q nên bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và giao cháu Ý cho ông Q1 trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Trần Phú Q1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Q1 không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án cũng không nhận được văn bản ý kiến hay bản tự khai của ông Q1.
Tại phiên tòa: Ông Q1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Q đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Q1 vắng mặt trong quá trình tố tụng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Như Q yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Trần Phú Q1 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông Q1 có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, ông Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Q1 theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Q và ông Q1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 295, ngày 17/11/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại tổ D Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Nguyên nhân từ những vấn đề liên quan đến tình cảm, kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình không có sự chia sẻ, đồng cảm với nhau, cả hai không thể giải quyết dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống hai bên. Đã nhiều lần nhờ gia đình hai bên cũng như phường xã can thiệp nhưng không giải quyết được. Nên hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 2/2023 cho đến nay. Tại phiên tòa bà Q xác nhận không không còn tình cảm với ông Q1 nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Q1.
Kết quả xác minh cho thấy: Bà Q và ông Q1 chung sống, kết hôn với nhau vào năm 2016. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống tại tổ D Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên bà Q và con trai chuyển về nhà mẹ đẻ tại khu phố H, thị trấn L; con gái lớn của bà Q và ông Q1 vẫn ở cùng ông Q1 tại khu phố H.
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông Q1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy bản thân ông Q1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc đời sống hôn nhân.
Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn giữa bà Q và ông Q1 là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q đối với ông Q1.
Về nuôi con chung: Bà Q và ông Q1 có 02 con chung tên Trần Như Ý, sinh ngày 30/5/2017 và Trần Duy K, sinh ngày 02/5/2019. Hiện cháu Ý đang ở với ông Q1, cháu K đang ở với bà Q nên bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và giao cháu Ý cho ông Q1 trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi hai vợ chồng ly thân cho tới nay cháu K ở với mẹ, được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Ý ở với cha, được cha trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Để tránh xáo trộn trong sinh hoạt, tâm lý, học tập của các cháu. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Q giao cháu K cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Ý cho ông Q1 trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Q, ông Q1 không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Như Q ly hôn ông Trần Phú Q1.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Trần Duy K, sinh ngày 02/5/2019 cho bà Trần Như Q và giao con chung Trần Như Ý, sinh ngày 30/5/2027 cho ông Trần Phú Q1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Bà Q không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001826, ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Q đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - UBND TT Long Hải; (GCNKH số 295 ngày 17/11/2016) - Đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bình |