vanban.org

Bản án 100/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Bé H và anh Nguyễn Văn S được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thế H1, sinh ngày 07/01/2009 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Thế H2, sinh ngày 13/12/2012 cho chị Phạm Thị Bé H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1, cháu H2 tròn 18 tuổi. Anh S, chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Bé Hai-Nguyễn Văn S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Bé H và anh Nguyễn Văn S được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-12-2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh

2. Ông Võ Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Giàu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2023/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Bé H, sinh năm 1992 (có mặt)

Trú tại: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985 (có mặt)

Trú tại: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Phạm Thị Bé H trình bày: Chị và anh S chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2010. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do không còn hoà hợp, thương yêu lẫn nhau. Do tình cảm không còn chị H yêu cầu ly hôn với anh S.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung, tên Nguyễn Thế H1, sinh năm 2009, Nguyễn Thế H2, sinh năm 2012. Chị H yêu cầu nuôi cháu H2, để anh S nuôi cháu H1, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn S trình bày: Nguyên đơn và bị đơn chung sống năm 2010, và có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nhưng không lớn, anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung, tên Nguyễn Thế H1, sinh năm 2009, Nguyễn Thế H2, sinh năm 2012. Anh để chị H nuôi cháu H2, anh S nuôi cháu H1, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2010 theo quy định, nên được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị H, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do không thể hoà hợp dẫn đến không còn tình cảm. Anh S thì cho rằng anh còn thương vợ và hứa sẽ khắc phục sai trái để vợ chồng hàn gắn lại với nhau. Qua diễn biến tại phiên tòa và sự kiên quyết ly hôn của chị H, cho thấy giữa chị H và anh S mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị H yêu cầu ly hôn là có cơ sở.

Về con chung: Chị H và anh S có hai con chung tên Nguyễn Thế H1, sinh năm 2009, Nguyễn Thế H2, sinh năm 2012. Anh S, chị H thống nhất để chị H nuôi cháu H2, anh S nuôi cháu H1, và các con của anh chị cũng có nguyện vọng được sống với cha, mẹ như anh chị đã trình bày. Nên Hội đồng xét xử giao cháu H2 cho chị H nuôi dưỡng, còn anh S nuôi cháu H1. Anh S, chị H không ai yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con nên anh chị phải phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Bé H và anh Nguyễn Văn S được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thế H1, sinh ngày 07/01/2009 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Thế H2, sinh ngày 13/12/2012 cho chị Phạm Thị Bé H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1, cháu H2 tròn 18 tuổi. Anh S, chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số PT 2024/70 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị H đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ