- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn N - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU ———— Bản án số: 100/2022/HSST Ngày: 15/07/2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lù Thanh Xá; Bà Lý Thị The
Thư ký phiên toà: Ông Đới Xuân Huy, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: ông Võ Văn Tuấn, kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2022/HSST, ngày 21 tháng 06 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2022/QĐXXST –HS, ngày 01 tháng 07 năm 2022 đối với bị cáo:
Lý Văn N - Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1985; sinh tại: B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Giáo viên; Đoàn, Đảng: Đảng viên dự bị, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc:Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lý Văn D – Sinh năm: 1946; Con bà: Đao Thị T – sinh năm 1947; Bị cáo có vợ: Lường Thị N – sinh năm: 1986; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm: 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2021 đến ngày 30/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liến quan: chị Lường Thị N - sinh năm 1986; Trú tại: Bản M, xã B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 20/12/2021, Lý Văn N đang ở một mình tại điểm trường G, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu thì có một người đàn ông gọi điện thoại đến cho N nói có một con Gấu muốn bán, qua trao đổi Lý Văn N đã nhất trí mua và hẹn người đàn ông này đến địa điểm để mua. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N đi xe máy đến bìa rừng cách điểm trường G 01 km thì gặp người đàn ông, người đàn ông này dẫn N đi vào trong rừng khoảng 01 km, khi đến nơi, N thấy 01 con Gấu lông màu đen đã chết, cân được 65 kg, N và người này thỏa thuận giá 850.000 đồng/1kg, tổng giá tiền là 55.250.000 đồng. Do không đem theo tiền, N hẹn đem con Gấu về nhà sẽ đem tiền trả cho người đàn ông này. Sau đó N cho con Gấu vào bao tải màu xám và bên ngoài bọc bao tải màu trắng khiêng ra xe máy chở con Gấu về điểm trường rồi đi ngủ. Đến khoảng 03 giờ Sáng ngày 21/12/2021, N ngủ dậy điều khiển xe máy chở con Gấu về nhà ở B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đến khoảng 05 giờ 20 phút cùng ngày, khi N đi đến km 250+649 Quốc lộ 4H thuộc địa phận xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang.
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số:1209/STTNSV, ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam kết luận: 01 (một) cá thể động vật thu giữ của Lý Văn N là loài Gấu Ngựa, có tên gọi Urus thi betanus, có tên trong phụ lục I, Danh mục các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKS – MT, ngày 21 tháng 06 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Lý Văn N về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn N từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục .
Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01(một) chiếc bao tải xác rắn màu xám và 01 bao tải xác rắn màu trắng -đen dùng đựng con Gấu; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo-1916. Đối với 01( một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Future màu sơn đỏ, xám đen BKS 25M1-041.89 đề nghị trả lại cho gia đình bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Lường Thị N ( vợ của bị cáo Lý Văn N) có ý kiến, đối với chiếc xe máy hiện đang thu giữ, đây là tài sản của gia đình chị, là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho gia đình chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng, vào khoảng 05 giờ ngày 21/12/2021, tại km 250+649, Quốc lộ 4H, thuộc địa phận xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an tỉnh Lai Châu đã phát hiện, bắt quả tang Lý Văn N đang có hành vi vận chuyển 01 cá thể Gấu ngựa đã chết, có tên gọi Urusthibetanus, có tên trong phụ lục I, Danh mục các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Lý Văn N vận chuyển cá thể Gấu ngựa với mục đích đem về để sử dụng.
Như vậy, khẳng định hành vi của Lý Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 BLHS. Khoản 1 Điều 244 BLHS quy định “Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 500.000.000đ ( Năm trăm triệu đồng) đến 2.000.000.000đ ( hai tỷ đồng) hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Điểm b” Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”.
Do vậy, Cáo trang số: 59/CT-VKS – MT, ngày 21 tháng 06 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Lý Văn N về tội “ Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân, bị cáo Lý Văn N có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác đã được cấp có thẩm quyền tặng Giấy khen và Bằng khen, cụ thể ngày 16/12/2019, Lý Văn N được Chủ tịch tỉnh Lai Châu tặng Bằng khen "có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh Lai Châu"; Bị cáo có bố là ông Lý Văn Dung là người có công với cách mạng được thưởng "Huy chương kháng chiến hạng nhì", đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[ 4 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách quản lý, bảo tồn các loại động vật nguy cấp, quý, hiếm của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên của các loài động vật hoang dã đang được bảo vệ, việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo mua cá thể Gấu đã chết chỉ với mục đích để sử dụng, do vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, rèn luyện mình trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội
[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo là người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định của chính phủ, Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này theo lời khai của Lý Văn N nguồn gốc 01(một) cá thể Gấu Ngựa (đã chết) bị thu giữ, là do N mua của 01 người đàn ông Dân tộc Mông tại khu vực rừng thuộc bản G, nhưng quá trình điều tra không xác định người đó là ai, nên không điều tra, xử lý được đối với người này. .
[ 6 ] Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 bao tải (01 bao tải màu xám, 01 bao tải màu trắng, đen dùng đựng cá thể Gấu Ngựa, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO -1916, vỏ màu xanh, số IMEI1: 865966047783291, số IMEI2: 865966047783283, kèm theo thẻ sim, đây công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE màu sơn đỏ - xám-đen, BKS 25M1- 04189; số khung RLHJC5357DY009656; số máy JC54E-1016928 (xe đã qua sử dụng), kèm theo 01 chìa khóa, đây là tài sản chung là phương tiện đi lại của gia đình bị cáo, cần phải trả lại cho gia đình bị cáo, người đại diện gia đình là chị Lường thị N - Sinh năm: 1986 ( là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án); trú tại bản M, xã B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo Lý Văn N là người dân tộc thiểu số, có điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ cần phải chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47; Điều 65 BLHS và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội " Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm".
Xử phạt bị cáo Lý Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lý Văn N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu quản lý, giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Lý Văn N thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao tải ( gồm: 01 bao tải màu xám, 01 bao tải màu trắng, đen dùng đựng cá thể Gấu Ngựa).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO -1916, vỏ màu xanh, số IMEI1: 865966047783291,số IMEI2: 865966047783283, khèm theo thẻ sim.
- Trả lại cho gia đình bị cáo Lý Văn N - Người đại diện là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lường Thị N ( vợ bị cáo ), Sinh năm 1986; trú tại bản M, xã B, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE màu sơn đỏ -xám-đen, BKS 25M1- 04189; số khung RLHJC5357DY009656; số máy JC54E-1016928 (xe đã qua sử dụng), kèm theo chìa khóa xe.
Toàn bộ những vật chứng trên hiện đang được thu giữ, quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu theo biên bản giao nhận vật chứng số 84 ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Miễn 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn N.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, có mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Thi hành án hình sự; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, ngĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |