vanban.org

Bản án 100/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo N Th 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2021. Tiếp tục tạm giam các bị cáo N Th 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 52 Bộ luật hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNHPHỐHỒCHÍMINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2022/HSST
Ngày: 19-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hồi

Ông Huỳnh Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Ngô Thị Hoài Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công Khi vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

N Th, sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N T và bà Bùi P (chết); Tiền án: Ngày 07/3/2013, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 12/2013/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2020; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 13/10/2021 cho đến nay (có mặt).

Bị hại:

1. Ông V Kh, sinh năm 1985; Địa chỉ: số 07, đường số 9, tổ 7, khu phố 6, thị trấn C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Ông N P, sinh năm 1985; Địa chỉ: 142/11, ấp T2, xã T, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

N Th là đối tượng nghiện ma túy, do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định tìm kiếm nhà dân có cơ sở để lấy trộm tài sản. Trong năm 2021, Th đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 25/5/2021, Th điều khiển xe đạp đến số nhà 07 đường số 09, tổ 7, khu phố 06, thị trấn C, huyện Củ Chi do ông V Kh làm chủ. Th dựng xe đạp sát tường rồi leo qua ban công cửa lầu 1, chui lỗ Th gió nhà vệ sinh xuống tầng trệt vào phòng ngủ lấy trộm được số tiền 6.900.000 đồng; vào phòng khách lấy trộm 01 máy laptop hiệu Asus màu đen, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Tissot màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio màu đen rồi tẩu thoát.

Đến ngày 27/5/2021, Th bán laptop và đồng hồ hiệu Tissot cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) được 6.500.000 đồng. Riêng đồng hồ hiệu Casio màu đen, Th đã cho một người buôn bán ve chai (không rõ lai lịch).

Kết luận định giá tài sản số 104/KL-HD0ĐGTS ngày 08/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi kết luận:

+ 01 máy laptop hiệu Asus TP550 core i3, ram 8GB màu đen, có giá trị 3.000.000 đồng;

+ 01 đồng hồ đeo tay hiệu Tissot T86.407.22.261.0038, màu trắng, có giá trị 6.000.000 đồng;

+ 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio G-Shock GTA-110, màu đen, có giá trị 2.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền: 11.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ ngày 10/10/2021, Th điều khiển xe đạp qua căn nhà tại địa chỉ 142/11, ấp T2, xã T, huyện M do ông N P làm chủ thì phát hiện cửa sổ đang mở, không có song sắt nên Th dựng xe đạp bên hông nhà, dùng cây và khẩu trang che camera an ninh, còn ba lô để dưới đất rồi leo vào trong lục tìm tài sản. Th lục tìm được 01 cái bóp màu vàng bỏ trong ngăn tủ sát cửa sổ được số tiền khoảng 2.000.000 đồng. Sau đó, Th tiếp tục đi lên lầu 1 vào phòng thứ hai lục tìm được 01 chiếc nhẫn; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt có hình tượng Phật; 01 lắc tay và 01 dây chuyền bạc. Th tiếp tục qua phòng thứ ba lục tìm được 01 tờ 50USD và 05 tờ 02USD để trong con heo đất màu xanh đã bị bể một phần. Th bỏ tất cả tài sản vừa trộm được vào túi quần và xuống lầu tẩu thoát thì bị ông P thức dậy phát hiện truy hô. Th leo lên cửa cổng nhảy xuống phía dưới làm chân bị thương rồi ôm ba lô bỏ chạy bộ tẩu thoát và đón xe đến bệnh viện đa khoa Củ Chi để điều trị.

Đến ngày 13/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn bắt được Th và tạm giữ số tang vật của vụ án. Riêng 01 lắc tay, quá trình tẩu thoát Th đã làm rơi ở đâu không rõ.

Kết luận định giá tài sản số 156/KL-HĐDGTS ngày 04/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận:

+ 01 nhẫn bằng vàng trắng (loại vàng Ý) có trọng lượng 1,5396 chỉ, có giá trị: 6.158.400 đồng;

+ 01 lắc tay bằng vàng trắng (loại vàng Ý) có trọng lượng 3,874 chỉ, có giá trị 15.496.000 đồng;

+ 01 sợi dây chuyển bằng vàng 18K; có mặt dây chuyền hình tượng Phật bằng vàng 18K có đính hạt nhân tạo, có tổng trọng lượng 2,76 chỉ, có giá trị: 10.057.716 đồng.

+ 01 sợi dây chuyền bằng bạc, có trọng lượng 13,5 chỉ, có giá trị 945.000 đồng;

+ 60USD: 1.358.700 đồng

Tổng cộng số tiền: 34.015.816 đồng

Ngoài ra, ngày 25/7/2021, Th còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại nhà số 85/12 Ng H, tổ 4, khu phố 1, thị trấn C, huyện C. Do bị hại là người nước ngoài nên vụ việc này Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn đã chuyển vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 01 nhẫn kim loại màu bạc có đính hạt; 01 dây kim loại màu vàng, có mặt dây chuyền màu vàng hình tượng phật có đính hạt; 01 dây kim loại màu bạc dài khoảng 59 cm. Đây là tài sản hợp pháp của ông P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông P.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, là tài sản cá nhân của Th

- Tiền Việt Nam: 4.720.000 đồng, là tiền Th trộm cắp mà có được;

- 01 đồng hồ kim loại trên mặt đồng hồ có chữ OMEGA; 01 đồng hồ kim loại màu bạc có đính hạt, trên mặt đồng hồ có chữ AUDEMARS PIGUET; 01 đồng hồ kim loại có dây đeo nhựa màu đen, trên mặt đồng hồ có chữ HUBLOT, dây đeo bị đứt; 01 vòng tay kim loại màu bạc, có viền giữa màu đen, trên khóa vòng tay có chữ CKJ; Đây là vật chứng trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại huyện Củ Chi vào ngày 25/7/2021, hiện vụ việc đang được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã bàn giao vật chứng này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền;

- 01 xe đạp; 01 đôi dép xốp Th bỏ lại hiện trường.

Về dân sự: ông P đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường. ông Kh yêu cầu bồi thường số tiền 33.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 82/VKS-HS ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo N Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Tòa án đã giải thích tổng số tài sản mà bị cáo Th trộm của ông Kh có giá trị là 17.900.000 đồng nhưng bị cáo Th đồng ý tự nguyện bồi thường cho ông Kh số tiền 33.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Th đã nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản”; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo Th có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với N Th về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 2 Điều 173; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Th từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường dân sự cho ông Kh số tiền 33.000.000 đồng.

Đối với đối tượng đã mua máy laptop và đồng hồ của Th, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy : 01 đôi dép xốp; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe đạp; Trả lại bị cáo Th 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen

Đối với số tiền 4.720.000 đồng, là tiền do bị cáo Th phạm tội mà có; Bị cáo Th đã tự nguyện bồi thường cho ông Kh nên trả lại cho bị cáo Th. Giao chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N Th khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo Th phù hợp bản kết luận điều tra của Công an huyện Hóc Môn, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Th có hành vi lén lút lấy trộm tài sản gồm 6.900.000 đồng, 01 máy laptop hiệu Asus màu đen, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Tissot màu trắng, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio màu đen của ông V Kh; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu bạc, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng mặt có hình tượng phật, 01 lắc tay, 01 dây chuyền bạc, 60USD, 2.000.000 đồng của ông N P. Tổng giá trị tài sản là 53.915.816 đồng. Do đó, bị cáo Th đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Th biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Th đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được Nhà nước bảo vệ; ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục bị cáo Th và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về dân sự: ghi nhận sự sự nguyện của bị cáo Th đối với ông Kh số tiền 33.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen, là tài sản cá nhân của bị cáo Th nên trả lại cho bị cáo Th.

- 01 xe đạp là phương tiện bị cáo Th dùng đi trộm cắp nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- 01 đôi dép xốp của bị cáo Th, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 4.720.000 đồng, là tiền do bị cáo Th phạm tội mà có, hiện đang giữ tại tại tài khoản số 3949.0.9061672 tại kho bạc Nhà nước của Công an huyện Hóc Môn. Bị cáo Th đã tự nguyện bồi thường cho ông Kh nên trả lại cho bị cáo Th. Giao chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với đối tượng đã mua máy laptop và đồng hồ của bị cáo Th, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, xử lý sau.

Về án phí: bị cáo Th phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo N Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo N Th 04 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật hình sự

Tiếp tục tạm giam các bị cáo N Th 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ Điều 585 Bộ luật dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo N Th bồi thường cho ông V Kh số tiền 33.000.000 (ba mươi ba triệu) đồng, thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép xốp, chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2022.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe đạp, chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2022;

Trả lại cho bị cáo N Th 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh đen. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2022.

Số tiền 4.720.000 (bốn triệu bảy trăm hai mươi ngàn) đồng, là tiền do bị cáo N Th phạm tội mà có, hiện đang giữ tại tại tài khoản số 3949.0.9061672 tại kho bạc Nhà nước của Công an huyện Hóc Môn. Bị cáo N Th đã tự nguyện bồi thường cho ông V Kh nên trả lại cho bị cáo N Th. Giao chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo N Th chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.650.000 (một triệu sáu trăm năm mươi ngàn) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo N Th chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cương chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.

Cỡ chữ