- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị P được ly hôn với Ông Hà Ngọc C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26 – 9 – 2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tăng Thị Bạch Vân;
Ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Luyến-Thẩm Tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên-Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2022/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2022, về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh ngày 01/01/1972
- Bị đơn: Ông Hà Ngọc C, sinh năm 1966
Cùng địa chỉ: Số 633/12, ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 27/4/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Bà Lê Thị P trình bày:
Bà và Ông Hà Ngọc C được gia đình tổ chức lễ cưới năm 1988 và đến ngày 04/11/2019, vợ chồng có đến Ủy ban nhân dân xã X đăng ký kết hôn số 200; Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: Bà không còn tình cảm với Ông Hà Ngọc C. Bà nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được nữa.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 người con chung là Hà Thị Mỹ A, sinh ngày: 30/05/1988, hiện nay đã trưởng thành, phát triển bình thường về thể chất, tinh thần.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Bà xin ly hôn với Ông Hà Ngọc C.
- Về con chung: Cháu Hà Thị Mỹ A, hiện nay đã trưởng thành, phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn Ông Hà Ngọc C không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lê Thị P.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn Ông Hà Ngọc C, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị P và Ông Hà Ngọc C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 04/11/2019, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, Bà P và Ông C có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, do không còn tình cảm, không hạnh phúc, nên đã sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà P.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, Bà P và Ông C có một người con chung là Hà Thị Mỹ A, sinh ngày 30/05/1988, đã trưởng thành, phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Đề nghị của Kiểm sát viên, về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, là có căn cứ, theo như nhận định và phân tích nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị P được ly hôn với Ông Hà Ngọc C.
2) Về con chung: Cháu Hà Thị Mỹ A, sinh ngày: 30/05/1988, đã trưởng thành, phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần, nên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4) Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003919, ngày 27/6/2022, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, Bà P đã nộp xong án phí sơ thẩm.
5) Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
6) Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Các đương sự; - Chi cục THADSH Kế Sách (khi đã có hiệu lực); - Uỷ ban nhân dân xã X; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Vinh Thắng |