vanban.org

Bản án 100/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

HNGĐ ngày 06-10-2022 về “Ly hôn, nuôi con chung”.

* Nơi nhận: VKSND huyện H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nh và anh Th"
  • Tòa quyết gì? HNGĐ ngày 06-10-2022 về “Ly hôn, nuôi con chung”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
huyÖn hƯng Hµ
TØnh Th¸i B×nh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-12-2022
V/v “ly hôn giữa chị Nh
và anh Th”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Văn Trung

2. Bà Đào Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 21-12-2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2022/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/HNGĐ - QĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1999 (có măt).

ĐKHK: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tạm trú: Thôn V, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1994 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai người khởi kiện chị Nguyễn Thị Nh trình bày: Chị kết hôn với anh Th là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã M, huyện H vào ngày 25-9-2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau chỉ vì kinh tế khó khăn. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và sống ly thân từ tháng 12-2020 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Toà án nhân dân (TAND) huyện H giải quyết cho chị được ly hôn anh Th. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Bảo Nh1, sinh ngày 08/7/2017 và Hoàng Minh Tr, sinh ngày 07/8/2018, từ khi vợ chồng ly thân bố mẹ anh Th là người trực tiếp nuôi 02 cháu. Khi ly hôn chị xin nuôi 02 con, chị không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản chung: Không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản lấy lời khai các ngày 13/10/2022 và ngày 15/11/2022 ông Hoàng Văn H, sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ của anh Th) trình bày: Anh Th kết hôn với chị Nh do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã M, huyện H vào tháng 9/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được vài tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay chị Nh xin ly hôn, anh Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn. Về nuôi con chung: anh Th và chị Nh có 02 con chung là Hoàng Bảo Nh1, sinh ngày 08/7/2017 và Hoàng Minh Tr, sinh ngày 07/8/2018, từ khi vợ chồng ly thân 02 cháu do vợ chồng ông nuôi các cháu. Khi ly hôn anh Th có nguyện vọng nuôi 01 con, nhưng anh Th không về được, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh Th đang làm ăn ở Miền nam, anh Th không có địa chỉ cụ thể, anh Th thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại, ông đã thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh Th biết, nhưng anh Th bận công việc không về Toà án để giải quyết vụ án được, anh Th đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Chị Nh đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh Th không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Th vắng mặt tại địa phương Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ly hôn giữa chị Nh và anh Th; về nuôi con chung: giao 02 cháu Nh1 và cháu Tr cho chị Nh nuôi dưỡng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con; về chia tài sản chung: Chưa giải quyết; về án phí: chị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

[2] Về tố tụng: Chị Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th ở thôn T, xã M, huyện H, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện H, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh Th đã biết TAND huyện H đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Nh với anh, nhưng anh không về Tòa án để giải quyết vụ án. Vì vậy, TAND huyện H mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh Th theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nh kết hôn với anh Th là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã M, huyện H vào ngày 25-9-2017, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tình tính không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, sống ly thân từ tháng 12 năm 2020 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy chị Nh và anh Th mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Th, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Nh, anh Th có 02 con chung là Hoàng Bảo Nh1, sinh ngày 08/7/2017 và Hoàng Minh Tr, sinh ngày 07/8/2018. khi ly hôn chị Nh xin được nuôi 02 con, chị không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của đương sự, vì vậy cần giao 02 cháu Nh1, cháu Tr cho chị Nh nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 - Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung: Mặc dù chị Nh và ông Hoa (bố anh Th) đều trình bày vợ chồng không có tài sản gì chung nhưng do chưa có ý kiến trực tiếp của anh Th nên Tòa án không xem xét giải quyết. Các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản bằng vụ kiện dân sự khác (nếu có).

Về án phí: Chị Nh phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Hoàng Văn Th.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Bảo Nh1, sinh ngày 08/7/2017 và Hoàng Minh Tr, sinh ngày 07/8/2018 cho chị Nh nuôi dưỡng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Th được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản chung: Chưa giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nh phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005816 ngày 06-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình, chị Nh đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; anh Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- Đương sự;

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND huyện H;

- Chi cục THADS huyện H;

(đã ký)

- Lưu tại UBND xã M;

- Lưu hồ sơ.

Trần Thị Nhàn TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HƯNG HÀ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH THÁI BÌNH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 21 tháng 12 năm 2022

Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

Với Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Văn Trung.

2. Bà Đào Thị Thu Hằng.

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 296/2022/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, nuôi con chung” giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1999 (có măt).

ĐKHK: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tạm trú: Thôn V, xã D, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1994 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh Hoàng Văn Th.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Bảo Nh1, sinh ngày 08/7/2017 và Hoàng Minh Tr, sinh ngày 07/8/2018 cho chị Nh nuôi dưỡng, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Th được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản chung: Chưa giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nh phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005816 ngày 06-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình, chị Nh đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; anh Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Biểu quyết nhất trí: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 21-12-2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ