- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Bùi Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2022/HNGĐ-ST Ngày 02-6-2022 V/v: Ly hôn, nuôi con chung giữa chị H và anh T |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Lịch;
Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1998. Hộ khẩu thường trú: Xóm 6, xã A, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: Xóm 2, xã A, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
Bị đơn: Anh Bùi Xuân T, sinh năm 1997. Hộ khẩu thường trú: Xóm 6, xã A, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.
(chị H, anh T đều vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 06-4-2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Xuân T đăng ký kết hôn ngày 16-12-2019 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Hải Hậu, tinh Nam Định, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh T tại xóm 6, xã A. Vợ chồng sống hòa thuận H phúc đến tháng 8-2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, anh T lại không tu trí làm ăn, vướng vào tệ nạn xã hội nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, có lần anh T còn đánh chị H. Chị H và hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh T không thay đổi. Chị H đã về nhà bố mẹ đẻ để ở từ tháng 8-2020, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện anh T đang chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định do phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay chị H nhận thấy tình cảm của chị đối với anh T không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Bùi Huyền Anh, sinh ngày 23-6-2020, hiện nay con đang ở cùng chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng tiếp tục nhận nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Vũ Thị H xác nhận vợ chồng không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 19-4-2022, bị đơn anh Bùi Xuân T có lời khai phù hợp với lời khai của chị H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống. Theo anh T, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2020, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, không có tiếng nói chung. Từ tháng 8-2020 chị H về nhà bố mẹ đẻ để ở, vợ chồng sống ly thân từ đó. Do bạn bè rủ rê anh T đã vướng vào tệ nạn xã hội và đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh T nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh T thống nhất với lời khai của chị H vợ chồng có một con chung như chị H trình bày. Do con còn nhỏ và hiện anh không đủ điều kiện để nuôi con nên khi ly hôn anh T nhất trí để chị H tiếp tục nuôi dưỡng con.
Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh T có lời khai thống nhất với lời khai của chị H, vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh T đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định nên anh xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa xét xử của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị H và anh Bùi Xuân T đều có đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Vũ Thị H và anh Bùi Xuân T là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã A, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 16-12-2019. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 8-2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, anh T lại không tu trí làm ăn đã vướng vào tệ nạn xã hội nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cãi chửi nhau. Chị H và bố mẹ hai bên cũng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T vẫn không thay đổi. Tháng 8-2020 chị H về nhà bố mẹ đẻ ở và vợ chồng đã ly thân từ đó. Nay chị H xin ly hôn, anh T cũng nhất trí.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T là trầm trọng, cuộc sống chung không còn hòa hợp, H phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8-2020 đến nay nhưng chị H, anh T không có biện pháp, hành động thiết thực nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Mặt khác, do anh T mắc vào tệ nạn xã hội và hiện đang phải chấp hành trong trại tạm giam. Bản thân anh T cũng xác định do không còn tình cảm với chị H và hiện anh đang bị tạm giam nên anh cũng nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị H. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Bùi Huyền Anh, sinh ngày 23-6-2020. Khi ly hôn, chị H và anh T đều thống nhất ý kiến để con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét điều kiện hoàn cảnh và nguyện vọng của hai bên hiện nay thì thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung vẫn do chị H nuôi dưỡng, anh T hiện đang phải chấp hành hình phạt tù không có đủ điều kiện nuôi con chung nên anh nhất trí để con cho chị H tiếp tục chăm sóc theo nguyện vọng của chị. Về trách nhiệm cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, anh T không có ý kiến gì nên về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Vì vậy, cần giao cháu Bùi Huyền Anh cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H và được quyền thăm con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị H và anh T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Bùi Xuân T.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Huyền Anh, sinh ngày 23-6-2020 cho chị Vũ Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung thành niên, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H và được quyền thăm con chung, không ai được ngăn cản nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Vũ Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006142 ngày 15-4-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lịch Nguyễn Thị Thúy Mùi
Phạm Thúy Nga
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã A; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Văn Lịch Nguyễn Thị Thúy Mùi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Nga THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Nga |