- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP SGTT và Đỗ Thị K T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2022/DS-ST Ngày: 28-4-2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
2. Bà Lê Thị Chí
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên, thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2022/QĐST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SGTT; địa chỉ trụ sở: Số A, đường N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1988 (Văn bản ủy quyền lập ngày 08/4/2021) (có mặt).
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Kiều T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Số 859/19/9 (số mới 180/2/9) Bùi Quang Là, Phường 12, quận Gò Vấp, Tp.HCM (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2021, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP SGTT (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ông Nguyễn Mạnh T là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 14/5/2019, Bà Đỗ Thị Kiều T có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP SGTT (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP SGTT - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ theo thu nhập và đề nghị của Bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho Bà T với hạn mức sử dụng là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, Bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 63.490.302 (sáu mươi ba triệu bốn trăm chín mươi nghìn ba trăm linh hai) đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt đến nay, Bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 46.423.923 (bốn mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn chín trăm hai mươi ba) đồng, sau đó Bà T không thanh toán đầy đủ tiền nợ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do Bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 22/02/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 28/4/2022 Bà T còn nợ số tiền là: Nợ gốc: 33.652.044 (ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm bốn mươi bốn) đồng; lãi quá hạn: 18.811.640 (mười tám triệu tám trăm mười một nghìn sáu trăm bốn mươi) đồng; Tổng cộng là: 52.463.684 (năm mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm tám mươi bốn) đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Bà T trả một lần toàn bộ số nợ trên và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 29/4/2022 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ. Ngoài ra Ngân hàng không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.
Bị đơn là Bà Đỗ Thị Kiều T mặc dù được được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để triệu tập bà đến Tòa để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng Bà T không đến Tòa, không cung cấp chứng cứ và không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, Bà T tự từ bỏ quyền được pháp luật bảo vệ. Bà T đã được Tòa án triệu tập lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP SGTT và Bà Đỗ Thị Kiều T có ký với nhau hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Do Bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Căn Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về người tham gia tố tụng:
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Tuy nhiên bị đơn – Bà T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Như vậy, việc bị đơn vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt Bà T
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1. Về yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ.
Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP SGTT - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) ngày 14/5/2019 được ký giữa Bà Đỗ Thị Kiều T với Ngân hàng TMCP SGTT cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ hợp đồng tín dụng và các bản sao kê mà nguyên đơn cung cấp thể hiện bị đơn - Bà T có thực hiện giao dịch với Ngân hàng. Tính đến ngày 28/4/2022 Bà T còn nợ số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc: 33.652.044 đồng; lãi quá hạn: 18.811.640 đồng; Tổng cộng là: 52.463.684 đồng. Do Bà T không thanh toán đúng hạn số tiền qua các lần giao dịch nên phát sinh lãi suất, các loại phí theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở để thanh toán số tiền còn nợ nhưng Bà T vẫn không thực hiện. Do Bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 22/02/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Như vậy, Bà T đã vi phạm về thời hạn thanh toán theo như thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nên Ngân hàng yêu cầu Bà T trả số tiền còn nợ là có căn cứ.
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoàn 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy lãi suất và phí của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 14/5/2019 mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật. Do Bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong hợp đồng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần buộc Bà T phải thanh toán một lần cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 28/4/2022 là 52.463.684 đồng (trong đó nợ gốc: 33.652.044 đồng; lãi quá hạn: 18.811.640 đồng); kể từ ngày 29/4/2022, Bà T tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.
Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu án phí là 2.623.184 (hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn một trăm tám mươi bốn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sử đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SGTT
Buộc Bà Đỗ Thị Kiều T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP SGTT số tiền tạm tính đến ngày 28/4/2022 là 52.463.684 (năm mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm tám mươi bốn) đồng (trong đó nợ gốc: 33.652.044 đồng; lãi quá hạn: 18.811.640 đồng)
Kể từ 29/4/2022, Bà T tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đỗ Thị Kiều T phải chịu số tiền án phí là 2.623.184 (hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn một trăm tám mươi bốn) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP SGTT số tiền tạm ứng án phí đã nộp 886.143 (tám trăm tám mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi ba) đồng theo biên lai thu số AA/2019/0028516 ngày 17/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP SGTT có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bà Đỗ Thị Kiều T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q. Gò Vấp; - Chi cục THADS Q. Gò Vấp; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Kiều Oanh |