vanban.org

Bản án 100/2021/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: Tuyên bố Lê Ngọc T phạm tội “Trộm

cắp tài sản”. luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Lê Ngọc T 01 (một) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: Tuyên bố Lê Ngọc T phạm tội “Trộm
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2021/HSST
Ngày: 21/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Tự

2. Bà Trần Hoàng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký Tòa án

nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên

Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.

Ngày 21 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2021/TLST-HS

ngày 29 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

632/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Ngọc T, sinh ngày 17 tháng 02 năm 1961, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi

đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 123 đường X, phường Y, Quận T,

Thành phố Z; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới

tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu S và bà Nguyễn

Thị Ngọc Đ; có chồng Nguyễn Chánh Tr và có 05 người con, nhỏ nhất sinh năm

2002, lớn nhất sinh năm 1982; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày

29 tháng 3 năm 1994 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm

cắp tài sản” theo bản án số: 40/HS-ST, ngày 16 tháng 5 năm 2001 bị Tòa án nhân

dân Quận 1 xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số:

194/HSST, ngày 25 tháng 5 năm 2004 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt

02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số: 194/HSST

ngày 16 tháng 5 năm 2001 của Tòa án nhân dân Quận 1 buộc chấp hành hình phạt

chung là 03 năm 08 tháng tù theo bản án số: 100/HSST, ngày 24 tháng 6 năm 2004

bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 02 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp

tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số: 100/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2004

của Tòa án nhân dân quận Tân Bình buộc chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù theo bản án số: 53/HSST, ngày 18 tháng 5 năm 2010 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 55/2010/HSST, ngày 14 tháng 8 năm 2013 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 151/2010/HSST; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07 tháng 01 năm 2021 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có mặt)

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm: 1994; chỗ ở hiện nay:

294/128/11 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 21, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành Trọng N, sinh năm: 1989. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, khoảng 09 giờ 50 phút ngày 07 tháng 01 năm 2021, Lê

Ngọc T đến cửa hàng Pedro, số 37 Nguyễn Trãi, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. T phát hiện ông Nguyễn Thành Trọng N và bà Nguyễn Thị Thúy V đang mua hàng, bà V để 01 chiếc ba lô ở kế bên tay phải ông N trên ghế salon đang ngồi nên T đến ngồi sau lưng ông N, dùng tay phải mở dây kéo ba lô lấy 01 ví tiền màu đỏ bên trong có 2.200.000 đồng và 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Thị Thúy V rồi bỏ đi. Lúc này, ông N phát hiện ví tiền của bà V bị mất nên đuổi theo T, khi đến giao lộ Nguyễn Trãi – Nguyễn Văn Tráng, phường Bến Thành, Quận 1 thì T bị ông N đuổi theo bắt giữ cùng vật chứng, đưa về Công an phường Bến Thành, Quận 1 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Theo bản kết luận số: 05/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 01 năm 2021 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận: 01 ví da màu đỏ, trị giá 200.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát

nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng:

Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp

tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm

2017. Bị cáo có nhân thân rất xấu nên cần có mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, khi

lượng hình cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội

nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại; thành khẩn khai

báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h,

s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt

bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, miễn hình phạt tiền

cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 ví da màu đỏ bên trong có số tiền 2.200.000 đồng và 01 thẻ ngân hàng

Vietcombank mang tên Nguyễn Thị Thúy V đã thu hồi trả lại bị hại là bà V và bà V

không có yêu cầu nào nên không xét.

- 01 USB chứa dữ liệu ghi hình vụ án tiếp tục lưu hồ sơ.

- 01 áo thun màu vàng, 01 quần dài màu vàng, bị cáo không nhận lại, không

còn giá trị sử dụng cần tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số imei: 353210114731903 xem xét trả

lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.

Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra

và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị

cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời

khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu,

chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản

ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai, bản tường trình, bản bắt người phạm tội

quả tang, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất, nhận dạng, kết luận định

giá,… nên có căn cứ để kết luận: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 07 tháng 01 năm

2021 tại cửa hàng Pedro, số 37 Nguyễn Trãi, phường Bến Thành, Quận 1, Thành

phố Hồ Chí Minh bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 ví tiền màu đỏ bên

trong có số tiền 2.200.000 đồng của bà V và sau đấy bị bắt giữ cùng vật chứng. Do

đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội

phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người làm chứng và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết

tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 2.400.000 đồng. Bị cáo có nhân thân rất xấu đã sáu lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên cần phải có mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe kẻ khác góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại

phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình

sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 ví da màu đỏ bên trong có số tiền 2.200.000 đồng và 01 thẻ

ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Thị Thúy V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã thu hồi trả lại bị hại là bà V và bà V không có yêu cầu nào nên Hội đồng xét xử không xét. (Bút lục 50, 56, 59)

- Đối với 01 USB chứa dữ liệu ghi hình vụ án cần tiếp tục lưu trong hồ sơ.

- Đối với 01 áo thun màu vàng, 01 quần dài màu vàng thu giữ của bị cáo T,

bị cáo không nhận lại, xét không còn giá trị sử dụng cần tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số imei: 353210114731903 (đã

qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng bên trong máy) thu giữ của bị cáo T. Bị

cáo T khai điện thoại sử dụng để liên lạc với gia đình nên không liên quan đến vụ

án cần xem xét trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án

sau này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2

Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ

phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: Tuyên bố Lê Ngọc T phạm tội “Trộm

cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ

luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Lê Ngọc T 01 (một)

năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 01 năm

2021.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,

Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi hình vụ án.

Tiêu hủy 01 (một) áo thun màu vàng; 01 (một) quần dài màu vàng.

Trả lại bị cáo Lê Ngọc T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số imei:

353210114731903, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 19/21-PNK ngày 12 tháng 01 năm 2021

của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,

khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Lê Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bị cáo Lê Ngọc T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ