- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hứa Văn H và Lê Đình T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 100/2021/HS-ST Ngày 17-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Cường
Ông Huỳnh Thanh Trà
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Hứa Văn H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04 tháng 09 năm 1989 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K282/3 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha Hứa Văn D, sinh năm 1950 (s) và mẹ là bà Đặng Thị Châu L, sinh năm 1950 (s); vợ là Nguyễn Trương Diễm C, có 01 sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Đình T1, tên gọi khác: Không, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1995 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K282/3 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha Lê Đình T, sinh năm 1967 (s) và mẹ là bà Đặng Thị Cẩm H, sinh năm 1964 (s); gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Chị Lương Quỳnh G, sinh năm: 1991. Địa chỉ: K282/1 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Lê Quang T2, sinh năm: 1987. Địa chỉ: K52/28 P, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
Chị Lê Thị Tuyết T3, sinh năm: 1996. Địa chỉ: K408/H84/12 H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hứa Văn H và Lê Đình T1 là anh em họ hàng ở cùng nhà với nhau, cả hai không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. H và T1 phát hiện nhà số 282/01 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng do chị Lương Quỳnh G đang ở một mình và thường xuyên đi làm, không có ai trông coi nên H và T1 đã trộm cắp tài sản của chị G hai lần. Cụ thể:
Lần 01: Khoảng 14 giờ ngày 21/3/2021, H và T1 đang ở nhà nhìn thấy bà G đi làm nên T1 cảnh giới cho H leo lên mái tôn, dùng tuốc nơ vít mở khung cửa sổ tầng 2, vào trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1S màu vàng. Đến ngày 22/3/2021, H và T1 bán điện thoại di động cho 01 nam thanh niên (chưa xác định lai lịch) với giá 600.000 đồng và bán máy tính xách tay cho anh Lê Quang T2 với giá 500.000 đồng, chia mỗi người 550.000 đồng, đã tiêu xài hết.
Theo Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐG ngày 31/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Hải Châu, kết luận: máy tính xách tay nhãn hiệu Dell nêu trên có trị giá 2.000.000 đồng; ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo F1S có trị giá 1.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.700.000 đồng.
Lần 02: Khoảng 15 giờ ngày 31/3/2021, cũng với cách thức như trên, T1 cảnh giới cho H đột nhập vào nhà chị G và trộm cắp 01 ví da nam nhãn hiệu Pedro màu xanh - đen; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Pedro màu trắng - đen; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Charles & Keith màu nâu (đều chưa qua sử dụng). Sau đó, thấy số tài sản này khó bán được nên H và T1 đã cho chị Lê Thị Tuyết T3 (em ruột của T1). Chị T1 đã trả lại cho H để giao nộp cơ quan Công an.
Theo Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 29/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Hải Châu, kết luận: 01 túi xách nữ nhãn hiệu Pedro, màu trắng - đen trị giá: 1.100.000 đồng; 01 ví da nam nhãn hiệu Pedro, màu xanh - đen trị giá: 1.250.000 đồng; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Charles & Keith, màu nâu trị giá: 1.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.600.000 đồng.
Hứa Văn H và Lê Đình T1 đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là: 7.300.000 đồng.
Vật chứng thu giữ từ:
- Chị Lương Quỳnh G: 01 đoạn video dài 02 phút 25 giây, ghi lại hình ảnh Hứa Văn H leo vào nhà chị G qua cửa sổ tầng 2 vào ngày 31.3.2021, được lưu trữ trong 01 đĩa CD-R.
- Anh Lê Quang T2: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, mã 3521, màu đen; 01 mainboard nhãn hiệu Dell, mã 3521; 01 vỏ mặt A của máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu đen; 01 vỏ mặt D của máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu đen.
- Hứa Văn H: 01 ví da nam nhãn hiệu Pedro, màu xanh - đen, kích thước (7x10)cm; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Pedro, màu trắng - đen, kích thước (12x22)cm; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Charles & Keith, màu nâu, kích thước (11x18)cm; 01 tuốc nơ vít bốn chấu, cán nhưa, dài 23cm, đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 19/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Hứa Văn H và Lê Đình T1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt Hứa Văn H từ 9 đến 15 tháng tù và xử phạt Lê Đình T1 từ 9 đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 tuốc nơ vít bốn chấu, cán nhưa, dài 23cm, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Hứa Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Lê Đình T1 thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa chị Lê Thị Tuyết T3 trình bày: Chị T3 có được H cho 01 túi xách nữ nhãn hiệu Pedro, màu trắng - đen; 01 ví da nam nhãn hiệu Pedro, màu xanh - đen và 01 túi xách nữ nhãn hiệu Charles & Keith màu nâu. Chị T3 có hỏi những tài sản này của ai thì H nói là của vợ H không sử dụng nên cho chị T3. Chị T3 không biết đây là những tài sản do phạm tội mà có. Chị T3 đã trả lại tài sản để giao nộp cho Công an.
Bị cáo Hứa Văn H nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong HĐXX xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị cáo Lê Đình T1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào ngày 21 và ngày 31/3/2021 tại nhà số 282/01 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Hứa Văn H và Lê Đình T1 có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Lương Thị Quỳnh G 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, trị giá 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1S có trị giá 1.700.000 đồng; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Pedro, màu trắng - đen trị giá 1.100.000 đồng; 01 ví da nam nhãn hiệu Pedro, màu xanh - đen trị giá: 1.250.000 đồng và 01 túi xách nữ nhãn hiệu Charles & Keith, màu nâu trị giá: 1.250.000 đồng, tổng trị giá tài sản Hứa Văn H và Lê Đình T1 chiếm đoạt là 7.300.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Hứa Văn H và Lê Đình T1 đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Hứa Văn H và Lê Đình T1 là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi, vai trò của từng bị cáo thì thấy: Hứa Văn H và Lê Đình T1 là người có sức khỏe lao động nhưng do công việc và thu nhập không ổn định, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã lén lút thực hiện trộm cắp tài sản. Các bị cáo đã lợi dụng lúc nhà không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Các bị cáo cố ý cùng tham gia phạm tội nhưng ý định phạm tội nẩy sinh tức thời khi nhà không có người, giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò rõ ràng nên đây là đồng phạm giản đơn. Hứa Văn H là người khởi xướng, thực hành leo lên mái tôn, dùng tuốc nơ vít mở khung cửa sổ tầng 2, vào trộm cắp tài sản. Lê Đình T1 là người cảnh giới giúp sức cho H thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hứa Văn H có vai trò tích cực hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn Lê Đình T1.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng: Hứa Văn H và Lê Đình T1 thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần vào ngày 21 và 31/3/2021, mỗi lần phạm tội có giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng, do đó các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Hứa Văn H có nhân thân xấu năm 2011 bị Công an quận Hải Châu xử phạt hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự với hình thức phạt tiền là 3.500.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về xử lý tang vật và trách nhiệm dân sự:
Đối với anh Lê Quang T2 đã mua máy tính xách tay; chị Lê Thị Tuyết T3 đã nhận túi xách và ví do H và T1 cho nhưng anh T2 và chị T3 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu không xử lý là có căn cứ. Anh T2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Đối với nam thanh niên đã mua ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo F1S, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả lại cho chị Lương Quỳnh G: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, model Inspiron 3521, màu đen; 01 ví da nam nhãn hiệu Pedro, màu xanh - đen; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Pedro, màu trắng - đen; 01 túi xách nữ nhãn hiệu Charles & Keith, màu nâu. Chị Lương Quỳnh G đã nhận lại một số tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 tuốc nơ vít bốn chấu, cán nhựa, dài 23cm là công cụ H và T1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2021.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hứa Văn H và Lê Đình T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt:
Hứa Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
Lê Đình T1 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 tuốc nơ vít bốn chấu, cán nhựa, dài 23cm.
Vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2021.
4. Về án phí: Lê Đình T1 và Hứa Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cómặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - CA quận Hải Châu; - VKSND quận Hải Châu; - VKSND TP Đà Nẵng; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phương Thảo |