vanban.org

Bản án 100/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Tiến D phạm tội ”Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Nguyễn Tiến D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Q nhận được bản án và quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập; không xử phạt hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo D. Trong thời gian c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D phạm tội ”Trộm cắp tài sản ”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Tiến D phạm tội ”Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100 /2021/ HS-ST
Ngày: 28-12-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH,TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải và ông Dương Quốc Phòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch,tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Minh Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2021/ TLST-HS ngày 26/11/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2021/QĐXXST-HS, ngày 06/12/2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến D - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 11/12/1978 tại huyện B, tỉnh Q. Trú tại: Tiểu khu 1, thị trấn H, huyện B, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: kinh. Quốc tịch: Việt Nam.Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Tiến Q và bà Hồ Thị T; vợ: Võ Thị H, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/10/2021 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1989.

Trú tại: Thôn 1, thị trấn H, huyện B, tỉnh Q, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/9/2021, Nguyễn Tiến D đang ngồi ở phía Bắc cổng chợ H thì nhìn thấy anh Hoàng Văn T đang dừng đỗ xe ô tô nhãn hiệu MISHUBISHI XPANDER, Biển kiểm soát 73A – 201.31 để xuống mua hàng hóa nhưng không khóa cửa. Lợi dụng sơ hở D đi đến gần mở cửa xe lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9X, màu hồng, màn hình cảm ứng của anh T đang để trên ghế phụ xe bỏ vào túi aó khoác rồi đi vào khu vực sát hành lang Ban quản lý chợ H cất dấu sau đó về nhà. Kết luận định giá tài sản – tang vật số 63/KL – HĐĐGTS ngày 15/10/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bố Trạch kết luận: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A9X, màu hồng trị giá 3.750.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Công an thị trấn Hoàn Lão đã thu giữ và xử lý trả lại cho bị hại Hoàng Văn T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A9X, màu hồng.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm.

Bản Cáo trạng số 95/CT-VKSBT ngày 25 /11/ 2021của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Tiến D về tội ”Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; không khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, nên không xét.

Bị cáo D nói lời sau cùng: Đã thấy được hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi, hiện tại đang bị bệnh, gia đình đang khó khăn; xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương để tiếp tục điều trị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo, các chứng cứ xác định tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai bị hại và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Tiến D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1Điều 173 Bộ luật hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố đối với bị cáo.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ động cơ hám lợi và ý thức coi thường pháp luật, Nguyễn Tiến D đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo chẳng những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu tình hình an ninh, trật tự ở địa phương; gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có quá trình nhân thân xấu: Đã có một lần bị kết án ngày 21/11/2011, xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưỡng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về hành vi trộm cắp tài sản (nay đã được xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần xử phạt nghiêm mới có tác dụng trừng trị, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: không ; tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố là ông Nguyễn Tiến Q là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và ba; bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân đội; hiện nay bị cáo D bị bệnh về gan, họng, dạ dày phải đi điều trị liên tục. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có chổ ở ổn định rõ ràng, cần có điều kiện để tiếp tục điều trị bệnh nên cho bị cáo được hưỡng hình phạt cải tạo không giam giữ là có căn cứ và cũng đủ tác dụng.

Bị cáo D làm nghề lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp; đang đau ốm; gia đình đang khó khăn nên không khấu trừ thu nhập và không xử phạt hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo D là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, nên không xét.

[6] Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nguyễn Tiến D phạm tội ”Trộm cắp tài sản ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 / UBTVQH 14 ngày 30 /12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Tiến D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Q nhận được bản án và quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập; không xử phạt hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo D. Trong thời gian chấp hành án bị cáo D phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Q phối hợp cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo D trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, nên không xét.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/12/2021). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ