- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phú C đối với chị Nguyễn Thị Mỹ T về việc ly hôn, nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 100/2021/HNGĐ-ST Ngày 03-12-2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 230/2021/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 105/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phú C, sinh năm 1977; thƣờng trú: Số 142/80 (số cũ 500A) đƣờng Bình Thung, khu phố Bình T1, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1976; thƣờng trú: Số 142/80 (số cũ 500A) đƣờng Bình Thung, khu phố Bình T1, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 19/4/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Phú C trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Trƣớc khi kết hôn anh C và chị T có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thành phố A, tỉnh D theo giấy chứng nhận kết hôn số 33KH, quyển số 1/99 ngày 05/4/1999. Việc kết hôn là tự nguyện không bị ai ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ anh C tại: Số 142/80 (số cũ 500A) đƣờng Bình Thung, khu phố Bình T1, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D cho đến nay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do thời gian gần đây việc kinh doanh của anh C gặp khó khăn, kinh tế eo hẹp nên chị T tỏ ra khó chịu và coi thƣờng anh C. Xảy ra chuyện gì anh C góp ý là chị T quay ra nói anh C là “anh làm thành công đi rồi lại nói tôi”. Bất đồng từ đó ngày càng trầm trọng dẫn đến xúc phạm chửi bới nhau những câu từ khó nghe. Vì thƣơng các con nên hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm với nhau nhiều lần nhƣng đƣợc một thời gian lại xảy ra mâu thuẫn và thậm chí còn trầm trọng hơn trƣớc. Hiện nay vợ chồng còn sống chung với nhau nhƣng đã ly thân về mặt tình cảm đƣợc hơn 01 năm nay và không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Anh C xác định không còn tình cảm với chị T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phú Gia B, sinh ngày 05/10/1999 (đã trƣởng thành) và Nguyễn Phú Gia T, sinh ngày 09/11/2007. Tại đơn khởi kiện anh C đồng ý giao cháu T cho chị T trực tiếp nuôi dƣỡng và anh C có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án chị T yêu cầu anh C trực tiếp nuôi cháu T nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn nên anh C đồng ý sẽ trực tiếp nuôi cháu T và không yêu cầu chị T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T trình bày:
Thống nhất lời trình bày của anh C về thời gian tìm hiểu, chung sống cũng nhƣ đăng ký kết hôn.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng gần tết nguyên đán năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Cụ thể, anh Cgọi bạn về nhà nhậu kêu chị làm đồ nhậu thì do không hiểu nhau nên anh C trách móc chị không đối xử tốt với bạn bè anh C. Sau đó ít hôm anh C nhậu say rồi xuống nhà bố mẹ chị T trách móc nói sẽ ly hôn với chị T và từ đó chủ động ra trƣớc sân nhà ngủ riêng (khi nằm võng, khi nằm ghế bố, khi trải nệm dƣới đất nằm). Tính anh C khi giận là anh chủ động làm thinh, chị T có nói gì anh không trả lời nên vợ chồng ít có cơ hội hàn gắn. Đến khoảng tháng 5/2020, anh C bán xe về mở tiệm bánh mì, thấy anh làm mình không có ngƣời phụ nên chị T chủ động xin nghỉ việc để về phụ anh buôn bán, từ đó anh C hết giận thì hai vợ chồng mới ngủ chung với nhau nhƣ trƣớc đây. Cách đây khoảng 01 năm thì vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn trong việc kinh doanh nên vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay và chƣa có phƣơng án nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Theo chị T những mâu thuẫn kể trên chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đời sống vợ chồng chứ không có gì nghiêm trọng, bản thân chị vẫn luôn chăm lo cho gia đình và vẫn còn tình cảm với anh C nên chị không đồng ý ly hôn.
+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phú Gia B, sinh ngày 05/10/1999 (đã trƣởng thành) và Nguyễn Phú Gia T, sinh ngày 09/11/2007. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị ly hôn thì chị đồng ý giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dƣỡng và chị không cấp dƣỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Mâu thuẫn giữa anh C và chị T đã thực sự trầm trọng, chị T cũng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng 01 năm nay nên có căn cứ giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Về con chung giao cháu Nguyễn Phú Gia T, sinh ngày 09/11/2007 cho anh C trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Cvề việc không yêu cầu chị T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Anh Nguyễn Phú C khở i kiê ̣n chị Nguyễn Thị Mỹ T yêu cầu đƣợc ly hôn nên đây là vu ̣ án hôn nhân và gia đình tranh chấp ly hôn , nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T có nơi cƣ trú tại khu phố T 1, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phú C và chị Nguyễn Thị Mỹ T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng A, thành phố A, tỉnh D theo giấy chứng nhận kết hôn số 33KH, quyển số 1/99 ngày 05/4/1999 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Anh C và chị T đều xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng trong chuyện sinh hoạt hàng ngày và chuyện kinh tế của gia đình. Anh C và chị T đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhƣng đƣợc một thời gian lại xảy ra mâu thuẫn, thậm chí là còn trầm trọng hơn. Hiện nay vợ chồng còn sống chung nhà nhƣng thực tế đã ly thân về mặt tình cảm đƣợc hơn 01 năm nay và không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Chị T cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn nhƣng đó chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong gia đình. Hiện tại chị T vẫn còn tình cảm với anh C nhƣng chị không có phƣơng án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, thƣơng các con và mong muốn vợ chồng đoàn tụ nên chị T không đồng ý ly hôn. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã diễn ra trong thời gian dài, cả hai không có giải pháp nào để khắc phục và đều thừa nhận cuộc sống có nhiều bất đồng, đã ly thân về mặt tình cảm đƣợc một thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nhƣ vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, anh C yêu cầu đƣợc ly hôn với chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phú Gia B, sinh ngày 05/10/1999 (đã trƣởng thành) và Nguyễn Phú Gia T, sinh ngày 09/11/2007. Khi giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy chị T đồng ý giao con chung cho anh Cđƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng, anh Cđồng ý và không yêu cầu chị T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Do đó cần giao cháu T cho anh C trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Phú C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 229, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phú C đối với chị Nguyễn Thị Mỹ T về việc ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phú C đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 33KH, quyển số 1/99 ngày 05/4/1999 do Ủy ban nhân dân phƣờng A, thành phố A, tỉnh D cấp).
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ T có trách nhiệm giao con chung tên Nguyễn Phú Gia T, sinh ngày 09/11/2007 cho anh Nguyễn Phú C trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh C về việc không yêu cầu chị T có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, anh Nguyễn Phú C và chị Nguyễn Thị Mỹ T có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Phú C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0049625 ngày 20/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Nguyên đơn, bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - UBND phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |